THÔNG TIN TÀI LIỆU HỌC TẬP
- Phân loại: Tài liệu học tập
- Định dạng: WORD
- Số trang: 133 trang (Không bao gồm bìa, Mục lục)
- Năm: 2025 / Mã số: C0010.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[CÓ ĐÁP ÁN] Đề cương ôn tập môn Triết học 3 de cuong on tap mon triet hoc 3](https://tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2025/01/de-cuong-on-tap-mon-triet-hoc-3.png)
MỤC LỤC TÀI LIỆU
| MỤC LỤC: | Trang |
|---|---|
| ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP TRIẾT HỌC | |
| VẤN ĐỀ 1: NỘI DUNG CƠ BẢN VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG? | 1 |
| 1. Triết học phương Đông nhấn mạnh mặt thống nhất trong mối quan hệ giữa con người với vũ trụ. | 1 |
| 2. Những tư tưởng triết học phương Đông ít khi tồn tại dưới dạng triết học thuần túy, mà thường được trình bày xen kẽ hoặc ẩn giấu đằng sau những vấn đề chính trị - xã hội, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, …. | 3 |
| 3. Triết học phương Đông phong phú, đa dạng, nhưng vận động chậm chạp, ít thấy những bước phát triển nhảy vọt về chất có tính chất vạch thời đại | 3 |
| 4. Trong các trào lưu, học thuyết của triết học phương Đông thường đan xen các yếu tố duy vật và duy tâm, biện chứng và siêu hình | 4 |
| VẤN ĐỀ 2: NỘI DUNG CƠ BẢN VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY | 7 |
| 1. Triết học Hi Lạp cổ đại | 7 |
| 2. Triết học tây âu thời trung cổ | 9 |
| 3. Triết học tây âu thời phục hưng và cận đại | 10 |
| 4. Triết học cổ điển đức | 13 |
| 5. Một số trào lưu triết học phương tây hiện đại | 13 |
| VẤN ĐỀ 3: MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC: LÝ LUẬN VÀ VÂN DỤNG | 21 |
| 1. Lý luận chung về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức | 21 |
| 2. Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong việc xây dựng nền kinh tế ở nước ta hiện nay | 23 |
| VẤN ĐỀ 4: PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT (LÝ LUẬN VÀ VẬN DỤNG) | 29 |
| 1. Phép biện chứng duy vật | 29 |
| 2. Các cặp phạm trù của phép duy vật biện chứng | 43 |
| 2.1. Cái riêng, cái chung và cái đơn nhất | 43 |
| 2.2. Nguyên nhân và kết quả | 47 |
| 2.3. Tất nhiên và ngẫu nhiên | 50 |
| 2.4. Nội dung và hình thức | 53 |
| 2.5. Bản chất và hiện tượng | 55 |
| 2.6. Khả năng và hiện thực | 58 |
| 3. Vận dụng phép biện chứng duy vật | 61 |
| 3.1. Liên hệ vấn đề môi trường vào dạy học địa lí | 61 |
| 3.2. Vận dụng phép biện chứng duy vật trên con đường phát triển của Việt Nam ngày nay | 63 |
| VẤN ĐỀ 5: NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN: NỘI DUNG VÀ VẬN DỤNG | 67 |
| 1. Nội dung nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn | 67 |
| 1.1. Khái niệm thực tiễn và lý luận của triết học | 67 |
| 1.2. Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn | 69 |
| 1.3. Ý nghĩa phương pháp luận | 72 |
| 2. Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong sự nghiệp đổi mới ở việt nam hiện nay | 74 |
| 2.1. Thực trạng con đường đi lên XHCN của nước ta | 74 |
| 2.2. Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của nước ta những năm qua | 75 |
| VẤN ĐỀ 6: NỘI DUNG CỦA LÝ LUẬN HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI | 79 |
| 1. Quan niệm duy vật về lịch sử và học thuyết hình thái kinh tế - xã hội | 79 |
| 2. Các yếu tố cơ bản cấu thành một hình thái kinh tế xã hội | 80 |
| 3. Sự phát triển của hình thái kinh tế xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên | 85 |
| 4. Vận dụng lý thuyết hình thái kinh tế-xã hội vào điều kiện Việt Nam hiện nay | 87 |
| 4.1. Thực tiễn cách mạng Việt Nam | 87 |
| 4.2. Quan điểm của C.Mác, Ph Anghen và V.I. Lênin về con đường đi lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN | 87 |
| 4.3. Tính tất yếu của con đường định hướng XHCN | 89 |
| 4.4. Thực tiễn về cách mạng Việt Nam | 90 |
| Kết luận | 91 |
| VẤN ĐỀ 7: VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY | 93 |
| VẤN ĐỀ 8: MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA TỒN TẠI XÃ HỘI VÀ Ý THỨC XÃ HỘI: LÍ LUẬN VÀ VẬN DỤNG | 110 |
| 1. Ý thức xã hội là sự phản ánh của tồn tại xã hội | 110 |
| 2. Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội | 111 |
| VẬN DỤNG | 113 |
| VẤN ĐỀ 9: TRIẾT HỌC VỀ CON NGƯỜI - LÝ LUẬN VÀ VẬN DỤNG | 118 |
| 1. Quan niệm về con người trong triết học trước Mác | 118 |
| 2. Quan niệm của triết học Mác - Lênin về bản chất con người. | 122 |
| a. Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt xã hội | 122 |
| b. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội | 124 |
| c. Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử | 125 |
| 3. Quan hệ giữa cá nhân và xã hội | 127 |
| 3.1. Khái niệm cá nhân | 127 |
| 2. Khái niệm nhân cách | 128 |
| 3. Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội | 129 |
| 4. Vai trò của quần chúng nhân dân và cá nhân trong lịch sử. | 133 |
TẢI VỀ: Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu! |
TÓM TẮT NỘI DUNG TÀI LIỆU
VẤN ĐỀ 1: NỘI DUNG CƠ BẢN VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG?
*Đặc điểm
Sự phát triển của bất cứ nền triết học cũng đều dựa trên chính những điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội – cái cơ sở vật chất để nó nảy sinh và phát triển. Triết học phương Đông cũng vậy.”Phương Đông cổ đại” là nơi sớm xuất hiện nhiều nền văn minh của nhân loại, với các trung tâm nằm bên những con sông lớn như: Hoàng Hà, Trường Giang (Trung Quốc), sông Nile (Ai Cập), sông Ấn và sông Hằng (Ấn Độ)…
Người phương Đông cổ đại sống trên lưu vực các con sông từ thời nguyên thủy đã sớm phát hiện và lợi dụng những thuận lợi đó để phát triển SX. Cùng với nông nghiệp,thủ công nghiệp cũng phát triển mạnh, xã hội sớm xuất hiện giai cấp và nhà nước. Chính dựa trên những điều kiện đó, lịch sử triết học của các nước phương Đông xuất hiện từ rất sớm, vào khoảng thiên niên kỷ thứ III trước Công nguyên.
Sự phát triển của tư tưởng triết học phương Đông có những đặc điểm mang bản sắc độc đáo với những đặcđiểm chung cơ bản như:
1. Triết học phương Đông nhấn mạnh mặt thống nhất trong mối quan hệ giữa con người với vũ trụ.
1.1. Ở phương Đông, thiên nhiên ưu đãi, giữa con người với vũ trụ hình như không có điều gì tách biệt. Cái cơ sở ban đầu ấy dần dần được người phương Đông khái quát thành tư tưởng “thiên nhân hợp nhất”, con người chỉ là một tiểu vũ trụ.
Ví dụ:
– Ở Trung Quốc, “thiên nhân hợp nhất” là tư tưởng xuyên suốt nhiều trường phái, học thuyết triết học khác nhau. Đây là cái đặc trưng rõ nét của triết học Trung Quốc (thuận thiên), ở phương Tây, vấn đề này mờ nhạt (chế thiên). Phương tây, con người là bộ phận của tự nhiên, tách khỏi tự nhiên, chinh phục tự nhiên…
+ Trang Tử (~365-290 trước CN) cho rằng, trời đất với ta cùng sinh, vạn vật với ta là một.
+ Mạnh Tử (372 – 289 tr.CN) cho rằng, vạn vật đều đầy đủ trong ta, chỉ cần quay về với mình thì mọi sự vật đều yên ổn không còn gì vui thú hơn.
+ Trong những kinh điển của Nho giáo (Kinh dịch, Luận ngữ, Trung dung, Đại học…) đều nhất quá tư tưởng “biết đến cùng cái tính của người thì cũng có thể biết đến cùng cái tính của vạn vật trời đất”.
– Ở Ấn Độ, quan niệm “thiên nhân hợp nhất” lại có màu sắc khác. Upanishad cho rằng, Brahman là tinh thần vũ trụ còn Atman là linh hồn con người. Atman chẳng qua là Brahman cơ trú trong thể xác con người mà thôi. Như vậy, gắn con người với vũ trụ cũng là tư tưởng nhất quán trong triết học Ấn Độ cổ đại.
1.2. “Thiên nhân hợp nhất” là xuất phát điểm của triết học phương Đông. Nó là cơ sở quyết định những đặc điểm khác của nền triết học này.
Ví dụ:
Ngay từ khi mới xuất hiện và trong suốt thời kỳ cổ, trung đại, triết học phương Đông đều lấy con người và các vấn đề liên quan đến con người làm đối tượng nghiên cứu, nhấn mạnh sự thống nhất giữa con người với vũ trụ. Nghiên cứu thế giới trong triết học phương Đông cũng chỉ để nhằm giải thích rõ vấn đề con người. Vì thế, vấn đề bản thể luận trong triết học phương Đông rất mờ nhạt. Còn triết học phương Tây lại đặt trọng tâm nghiên cứu vào thế giới, vấn đề con người cũng chỉ được bàn tới nhằm giải thích thế giới. Do đó, trong triết học phương Tây vấn đề bản thể luận rất đậm nét.
Ngay vấn đề con người: trong triết học phương Đông và triết học phương Tây cũng có những điểm khác biệt: triết học phương Đông đặt trọng tâm vào việc giải thích mối quan hệ giữa người với người và đời sống tâm linh của con người, ít quan tâm đến mặt sinh vật; còn triết học phương Tây lại ít quan tâm đến mặt xã hội của con người… Sau này, triết học Mác – Lênin đã khắc phục nhược điểm này của triết học phương Tây…
2. Những tư tưởng triết học phương Đông ít khi tồn tại dưới dạng triết học thuần túy, mà thường được trình bày xen kẽ hoặc ẩn giấu đằng sau những vấn đề chính trị – xã hội, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, ….
Điều này xuất phát từ chính đối tượng nghiên cứu của triết học phương Đông, chẳng hạn như: triết học Trung Quốc đi sâu nghiên cứu các vấn đề chính trị, xã hội, đạo đức và luân lý; Triết học Ấn Độ đi sâu nghiên cứu các vấn đề xã hội, tôn giáo và tâm linh.
Chính vì điều đó mà chủ thể của các học thuyết triết học phương Đông thường là các nhà hiền nhân, nhà giáo dục, nghiên cứu chính trị – xã hội (Trung Quốc) và là nhà truyền giáo, đạo sĩ (Ấn Độ). Cũng vì vậy, ở phương Đông ít khi có những triết gia và tác phẩm triết học độc lập.
Tính đại chúng, tính nhân dân của triết học phương Đông là một nét nổi bật. Do đó, các triết lý nhân sinh và tư duy triết học đều rất cụ thể, không cầu kỳ, dài dòng, lýluận nhiều; song sức sống lại rất bền vững, thiết thực, giá trị chỉ đạo hành động tốt.
Tính đại chúng, tính nhân dân của triết học phương Đông là một nét nổi bật. Triết học phương Đông ra đời từ văn hóa dân gian, thường là của tập thể hơn là tính cá nhân, mọi khái quát lý luận khi đã thành mục tiêu hành động và là phương châm sống để đời thì ai là tác giả, người sáng tác đều không cần thiết, không quan trọng. Do đó, các triết lý nhân sinh và tư duy triết học đều rất cụ thể, không cầu kỳ, dài dòng, lý luận nhiều; song sức sống lại rất bền vững, thiết thực, giá trị chỉ đạo hành động tốt…
3. Triết học phương Đông phong phú, đa dạng, nhưng vận động chậm chạp, ít thấy những bước phát triển nhảy vọt về chất có tính chất vạch thời đại
Nho giáo, Phật giáo, Bàlamôn giáo, Mặc gia, Âm Dương gia… được hình thành từ thời cổ đại (khoảng thế kỷ VI đến thế kỷ IV tr.CN) nhưng đến tận thế kỷ XIX vẫn giữ nguyên tên gọi và hình thức biểu hiện.
Nội dung của chúng có phát triển, nhưng chỉ là sự phát triển cục bộ, đi sâu vào từng chi tiết, từng tư tưởng trên cơ sở cũ có cải biến về phương diện nào đó mà thôi. Điều đó còn thể hiện ở chỗ những nhà tư tưởng ở những giai đoạn lịch sử sau thường cho mình là học trò, là kế tục sự nghiệp của các nhà sáng lập ra học thuyết ở những giai đoạn trước, chứ không phải phủ định học thuyết trước. Những tư tưởng mới mà họ đưa ra chỉ là để giải thích sâu hơn hoặc là nhằm bảo vệ những ý tưởng của các vị tiền bối. Vì vậy, ở các giai đoạn sau ít thấy những trường phái, học thuyết mới xuất hiện.
Tình hình đó phản ánh tính tiệm tiến, bảo thủ, trì trệ của triết học phương Đôn – nền triết học dựa trên cơ sở là sự tồn tại lâu dài của phương thức sản xuất châu Á.
4. Trong các trào lưu, học thuyết của triết học phương Đông thường đan xen các yếu tố duy vật và duy tâm, biện chứng và siêu hình
Trong các học thuyết cơ bản của triết học phương Đông xuất phát chính từ đối tượng nghiên cứu của nó là con người và những vấn đề liên quan đến đời sống con người nên tính đan xen giữa các yếu tố là điểm nổi bật.
– Nho giáo về cơ bản là duy tâm nhưng vẫn có một số những luận điểm duy vật, nhất là ở thời kỳ đầu.
– Lão giáo, Mặc gia, Âm Dương gia… bên cạnh những luận điểm duy vật, lại cũng có những điểm duy tâm.
– Ở Ấn Độ cổ đại, có đến 8 trong 9 trường phái triết học lớn ngả về duy tâm, còn 1 trường phái nghiêng về duy vật.
– Phật giáo tuy là một tôn giáo nhưng lại chứa đựng nhiều yếu tố duy vật và biện chứng. Như vậy, có thể thấy, thế giới quan bao trùm của triết học phương Đông là duy tâm, cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm có diễn ra, song không cân sức, không rõ chiến tuyến. Trong cuộc đấu tranh đó, chủ nghĩa duy vật chỉ là yếu tố chống lại cả một hệ thống là chủ nghĩa duy tâm. Trong triết học phương Đông cổ, trung đại thường có sự đan xen giữa các yếu tố duy vật và duy tâm, biện chứng và siêu hình. Tính đảng, tính giai cấp trong triết học không đậm nét, không sâu sắc như ở triết học Hy Lạp cổ đại. Những điều đó là cơ sở giải thích tại sao khoa học, kỹ thuật ra đời rất sớm ở phương Đông, song lại không phát triển và phát huy tác dụng.
Tóm lại, triết học phương Đông giải quyết vấn đề cơ bản của triết học, nó đặt trọngtâm vào việc giải quyết mặt thứ hai của vấn đề cơ bản của triết học. Mặt thứ nhấtcủa vấn đề cơ bản, tuy cũng được đề cập đến nhưng chỉ coi nó như là vấn đề cóliên quan, có tác dụng giải thích và bổ sung cho mặt thứ hai mà thôi.
* Nội dung
Triết học Ấn Độ:
Triết học Ấn Độ đề cập đến các truyền thống triết học cổ đại của tiểu lục địa Ấn Độ. Các triết lý chính thống lớn phát sinh vào khoảng giữa thời điểm bắt đầu Thời đại chung và Đế chế Gupta.Tư tưởng Ấn giáo cũng lan sang phía đông đế chế Srivijaya của Indonesia và Đế quốc Khmer của Campuchia. Những truyền thống tôn giáo-triết học này sau đó được nhóm lại dưới nhãn hiệu Ấn Độ giáo. Ấn Độ giáo là tôn giáo thống trị, hay cách sống, ở Nam Á. Nó bao gồm Shaivism, Vaishnavism và Shaktism trong số rất nhiều giáo phái Hindu khác, và một loạt các luật và quy định về “đạo đức hàng ngày” dựa trên các chuẩn mực nghiệp, pháp và xã hội.
Các khái niệm triết học quan trọng của Ấn Độ bao gồm pháp, nghiệp, luân hồi, moksha và ahimsa. Các nhà triết học Ấn Độ đã phát triển một hệ thống lý luận nhận thức luận (pramana) và logic và các chủ đề được nghiên cứu như Bản thể học (siêu hình học, Brahman – Atman, Sunyata – Anatta), các phương tiện tri thức đáng tin cậy (nhận thức luận, Pramanas), hệ thống giá trị
Triết học Phật giáo
Triết học Phật giáo bắt đầu với giáo lý của Tất đạt đa Cồ đàm (khoảng giữa thế kỷ thứ sáu và thứ tư TCN) và được bảo tồn trong các kinh điển Phật giáo sơ khai. Nó thường đề cập đến các nghiên cứu tìm tòi về triết học được phát triển giữa các trường phái Phật giáo khác nhau ở Ấn Độ và sau đó lan rộng khắp châu Á thông qua con đường tơ lụa. Tư tưởng Phật giáo là xuyên khu vực và xuyên văn hóa. Tư tưởng này là truyền thống triết học thống trị ở Tây Tạng và các nước Đông Nam Á như Sri Lanka và Myanmar.
Các truyền thống triết học Phật giáo sau này đã phát triển tâm lý hiện tượng học phức tạp gọi là ‘Abhidharma’. Các triết gia Đại thừa như Nagarjuna và Vasubandhu đã phát triển các lý thuyết về Shunyata (tính không của tất cả các hiện tượng) và Vijnapti-matra (vẻ ngoài), một hình thức của hiện tượng học hoặc chủ nghĩa duy tâm siêu việt.
Sau khi Phật giáo biến mất khỏi Ấn Độ, những truyền thống triết học này tiếp tục phát triển trong các truyền thống Phật giáo Tây Tạng, Phật giáo Đông Á và Phật giáo Nguyên thủy. Ở Tây Tạng, truyền thống Ấn Độ tiếp tục được phát triển dưới tác phẩm của các nhà tư tưởng như Sakya Pandita, Tsongkhapa và Ju Mipham. Ở Trung Quốc, sự phát triển mới của Phật giáo được những nhà tư tưởng phát triển.
Triết lý đạo Sikh
Đạo Sikh là một tôn giáo Ấn Độ được Đạo sư Nanak (1469-1539) phát triển ở vùng Punjab trong Thời đại Mughal. Kinh sách chính của họ là Guru Granth Sahib. Những niềm tin cơ bản bao gồm thiền định tâm linh liên tục về tên của Thiên Chúa, được Đạo sư hướng dẫn thay vì mang lại sự thất thường, sống cuộc sống của một chủ nhà thay vì tu viện, hành động trung thực với dharam (công bình, bổn phận đạo đức), bình đẳng của tất cả con người và tin vào ân sủng của Thiên Chúa. Các khái niệm chính bao gồm Simran, Sewa, Ba trụ cột của đạo Sikh và Năm tên trộm.
Triết học Ấn Độ hiện đại
Người Ấn Độ thế kỷ 19 đã phát triển những cách suy nghĩ mới được gọi là Neo-Vedanta và chủ nghĩa hiện đại của Ấn Độ giáo. Ý tưởng của họ tập trung vào tính phổ quát của triết học Ấn Độ (đặc biệt là Vedanta) và sự thống nhất của các tôn giáo khác nhau. Chính trong thời kỳ này, những người theo chủ nghĩa hiện đại của Ấn Độ giáo đã trình bày một “ Ấn Độ giáo “ duy nhất được lý tưởng hóa và thống nhất.
VẤN ĐỀ 2: NỘI DUNG CƠ BẢN VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY
1. Triết học Hi Lạp cổ đại
1.1 Vài nét về hoàn cảnh ra đời sự phát triển của triết học Hy Lạp cổ đại
Triết học Hy Lạp cổ đại ra đời trong bối cảnh diễn ra sự chuyển biến lâu dài và sâu sắc các quan hệ xã hội. Đó là sự ra đời của xã hội có giai cấp đầu tiên trong lịch sử-chế độ chiếm hữu nô lệ.
[… Vui lòng tải về để xem đầy đủ nội dung tài liệu này]
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ: Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu! |