THÔNG TIN TÀI LIỆU HỌC TẬP
- Phân loại: Tài liệu học tập
- Định dạng: WORD
- Số trang: 06 trang (Không bao gồm bìa, Mục lục)
- Năm: 2025 / Mã số: C0009.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Câu hỏi tự luận] Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về chiến tranh? 1 quan diem cua chu nghia mac lenin ve chien tranh](https://tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2025/01/quan-diem-cua-chu-nghia-mac-lenin-ve-chien-tranh.png)
MỤC LỤC TÀI LIỆU
| MỤC LỤC: | Trang |
|---|---|
| Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về chiến tranh | 1 |
| Khái niệm và đặc điểm về chiến tranh | 1 |
| Nguồn gốc và nguyên nhân của chiến tranh | 2 |
| Bản chất của chiến tranh | 3 |
| Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về quân đội | 4 |
| Nguồn gốc ra đời của quân đội | 4 |
| Bản chất giai cấp của quân đội | 4 |
| Sức mạnh chiến đấu của quân đội | 5 |
| Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về bảo vệ Tổ quốc XHCN | 6 |
TẢI VỀ: Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu! |
NỘI DUNG TÀI LIỆU
Khái niệm và đặc điểm về chiến tranh
Trước Mác đã có nhiều nhà tư tưởng đề cập đến vấn đề chiến tranh nhưng tư tưởng của Carl Philipp Gottfried von Clausewitz (Carl Ph.Clausewitz), ông quan niệm: Chiến tranh là một hành vi bạo lực dùng để buộc đối phương phải phục tùng ý trí của mình. Tuy nhiên ông không chỉ ra được bản chất của hành vi sử dụng bạo lực trong chiến tranh. Cùng với Ph. Ăng-ghen, C. Mác đã đặt nền móng cho học thuyết Mác – Lê-nin về chiến tranh, làm nên một cuộc cách mạng khi đánh giá, xem xét về bản chất của chiến tranh trong thế giới hiện thực. Nghiên cứu, tìm hiểu tư tưởng, quan điểm của C. Mác về chiến tranh để vận dụng, phát triển trong quá trình đấu tranh cách mạng là rất cần thiết. Quá trình hình thành và phát triển những tư tưởng, quan điểm của C. Mác về chiến tranh cũng xuất phát từ những tiền đề xã hội và lý luận nhất định. Đó là quá trình kế thừa, tiếp thu có chọn lọc những tư tưởng của nhân loại về chiến tranh và không ngừng đấu tranh phê phán, bác bỏ những quan điểm duy tâm, tôn giáo, siêu hình, phản khoa học của giai cấp tư sản về chiến tranh. C. Mác đã kiên quyết chống lại quan điểm cho rằng, chiến tranh là tất yếu, vốn có, là định mệnh đối với con người và xã hội loài người. Theo C. Mác, chiến tranh nảy sinh và phát triển có nguồn gốc và nguyên nhân của nó.
Ông phê phán quan điểm của G. Hêghen và C.Ph. Claudơvit – những người đã xuất phát từ lập trường tư sản để giải thích hiện tượng chiến tranh. Đồng thời, ra sức chống các quan điểm cho rằng, nguồn gốc, nguyên nhân của chiến tranh là do tâm lý, sinh lý, địa lý, dân số, kỹ thuật ,.. gây nên. Việc đánh giá có phê phán những thành tựu của toàn bộ tư tưởng lý luận quân sự trước Mác trên lập trường cách mạng và khoa học, có tính nguyên tắc của chủ nghĩa duy vật biện chứng đã cho phép Ông tạo ra một bước ngoặt cách mạng thực sự trong quan điểm, tư tưởng, lý luận về chiến tranh. Chiến tranh là hiện tượng chính trị – xã hội mang tính lịch sử, là hoạt động đấu tranh giữa các giai cấp, các nhà nước, các lực lượng chính trị có địa vị lợi ích đối lập nhau trong một nước hoặc giữa các nước nhằm đạt được mục đích chính trị nhất định.
Nguồn gốc và nguyên nhân của chiến tranh
Trên cơ sở phát hiện các quy luật của đời sống xã hội, lần đầu tiên trong lịch sử, C. Mác đã đưa ra luận điểm thực sự khoa học về chiến tranh; phát hiện ra nguồn gốc, nguyên nhân xuất hiện chiến tranh và chứng minh rằng, có thể loại trừ chiến tranh ra khỏi đời sống xã hội. Xuất phát từ phương thức sản xuất của đời sống vật chất quyết định các quá trình chính trị, xã hội, C. Mác đã xác định rõ bản chất giai cấp của chiến tranh, đó là: chiến tranh là một hiện tượng lịch sử – xã hội, rằng không nên xem xét chiến tranh tách rời sự phát triển xã hội và đấu tranh giai cấp. Ông cương quyết chống lại lý thuyết duy tâm, phản động bào chữa cho những cuộc chiến tranh do giai cấp bóc lột gây ra.
Mác đã chứng minh, trong chế độ công xã nguyên thủy, nơi không có chế độ tư hữu, thì cũng không có giai cấp, không có người bóc lột và người bị bóc lột, không có chiến tranh. Nếu những vấn đề tranh chấp giữa các bộ lạc và chủng tộc vì nguồn nước, vì nơi săn bắn, xuất hiện và thỉnh thoảng biến thành những sự đụng độ vũ trang, thì những sự đụng độ đó mang tính chất tạm thời, ngẫu nhiên. Sự đụng độ vũ trang giữa các bộ tộc và bộ lạc riêng lẻ xảy ra trong chế độ công xã nguyên thủy không thể gọi là chiến tranh, vì nó không bắt nguồn từ bản thân tính chất của các quan hệ xã hội và do đó không có mục đích chính trị rõ ràng.
Theo C. Mác chiến tranh với tư cách là một hiện tượng chính trị – xã hội xuất hiện khi mà lực lượng sản xuất phát triển đến mức có khả năng tạo ra sản phẩm thặng dư. Cùng với sự phát triển của năng suất lao động, đã diễn ra sự phân công lao động xã hội. Sản xuất phát triển, làm cho sức lao động của con người có khả năng sản xuất ra số lượng sản phẩm nhiều hơn số lượng sản phẩm cần thiết cho sự duy trì sức lao động. Khả năng chiếm đoạt thành quả lao động của người khác xuất hiện và cũng xuất hiện sự bất bình đẳng về kinh tế, tạo ra khả năng người bóc lột người. Do kết quả của việc phân chia xã hội thành giai cấp mà xuất hiện nhà nước, quân đội, cảnh sát. Cùng với sự xuất hiện chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, giai cấp và nhà nước, đã xuất hiện những cuộc chiến tranh nhằm chiếm đoạt lãnh thổ, tài sản và nô dịch các dân tộc nhỏ yếu.
Bản chất của chiến tranh
Bản chất của chiến tranh thể hiện trên hai mặt cơ bản luôn có sự thống nhất với nhau: Mặt chính trị và mặt bạo lực vũ trang. Chính trị là mục đích, bạo lực vũ trang là phương thức, biện pháp để thực hiện mục đích chính trị. Mặt chính trị và mặt phương thức bạo lực vũ trang không tách rời nhau.
Mác đã bác bỏ quan điểm của các nhà tư tưởng tư sản, coi chiến tranh chỉ là sự kế tục của chính trị đối ngoại; chứng minh giữa chính trị đối nội và chính trị đối ngoại của một nhà nước có mối liên hệ hữu cơ không thể tách rời, đó chỉ là hai mặt của cùng một đường lối chính trị. Chính trị đối nội biểu hiện bản chất giai cấp của nhà nước và các quyền lợi của giai cấp thống trị. Vì vậy, tính chất của chính trị đối ngoại, thông thường do chính trị đối nội quyết định. Chính trị đối nội của một nhà nước như thế nào thì về cơ bản, chính trị đối ngoại của nó cũng sẽ như thế ấy.
Ông khẳng định mối quan hệ giữa chính trị với chiến lược trong thời gian chiến tranh. Chính trị đóng vai trò quyết định trong khi vạch ra đường lối chiến lược, trong việc lựa chọn đòn tiến công chủ yếu và trong việc bố trí lực lượng, củng cố hậu phương, củng cố trạng thái chính trị – tinh thần của quân đội. Để có được quan điểm chiến lược đúng, trước hết cần phải tính toán sự so sánh lực lượng một cách khách quan, nghiêm túc, tình hình lực lượng trong nước và trên thế giới; cần phải có sự hiểu biết về quy luật phát triển của lịch sử xã hội. Trên cơ sở đó, khởi thảo ra kế hoạch hành động chung, đề ra nhiệm vụ để đạt tới những kết quả nhất định trong chiến tranh.
Những quan điểm, tư tưởng, lý luận của C. Mác về chiến tranh đã được Ph. Ăng-ghen (cây vĩ cầm bên cạnh C. Mác) nghiên cứu, bổ sung, phát triển, hoàn thiện trong những công trình nghiên cứu toàn diện, sâu sắc về những vấn đề quân sự và đã được V.I. Lê-nin tiếp tục bổ sung, phát triển trong điều kiện lịch sử mới. Những quan điểm mác xít về chiến tranh đã được các đảng cộng sản trên toàn thế giới vận dụng trong quá trình tiến hành những cuộc chiến tranh cách mạng, chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ tổ quốc, vì sự nghiệp giải phóng: xã hội, giai cấp và con người khỏi áp bức, xâm lược, nô dịch.
Quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin về quân đội
Theo Ph. Ăngghen: “Quân đội là một tập đoàn người vũ trang, có tổ chức do nhà nước xây dựng để dùng vào cuộc chiến tranh tiến công hoặc chiến tranh phòng ngự”. Như vậy, quân đội trong tư tưởng của Ăngghen là một tổ chức của một giai cấp và nhà nước nhất định, là công cụ bạo lực vũ trang và là nòng cốt để nhà nước, giai cấp tiến hành chiến tranh và đấu tranh vũ trang. Lenin nhấn mạnh quan điểm của mình về chiến tranh trong tình trạng chủ nghĩa tư bản phát triển thành chủ nghĩa đế quốc: chức năng cơ bản của quân đội đế quốc là phương tiện quân sự chủ yếu để đạt mục đích chính trị đối ngoại là tiến hành chiến tranh xâm lược và duy trì quyền thống trị của bọn bóc lột đối với nhân dân lao động trong nước.
Nguồn gốc ra đời của quân đội
Chủ nghĩa Mác – Lênin đã chứng minh một cách khoa học về nguồn gốc ra đời của quân đội từ sự phân tích cơ sở kinh tế – xã hội và khẳng định: quân đội là một hiện tượng lịch sử, ra đời trong giai đoạn phát triển nhất định của xã hội loài người, khi xuất hiện chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và sự đối kháng giai cấp trong xã hội. Chính chế độ tư hữu và đối kháng giai cấp đã làm nảy sinh nhà nước thống trị bóc lột. Để bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị và đàn áp quần chúng nhân dân lao động, giai cấp thống trị đã tổ chức ra lực lượng vũ trang thường trực làm công cụ bạo lực của nhà nước.
Chính vì vậy, khi nào còn chế độ tư hữu, còn chế độ áp bức bóc lột thì quân đội vẫn còn tồn tại. Quân đội chỉ mất đi khi giai cấp, nhà nước và những điều kiện sinh ra nó tiêu vong.
Bản chất giai cấp của quân đội
Mác và Ăngghen lý giải sâu sắc bản chất quân đội, quân đội là công cụ bạo lực vũ trang của một giai cấp, một nhà nước nhất định. Bản chất giai cấp của quân đội là bản chất của giai cấp của nhà nước đã tổ chức, nuôi dưỡng và sử dụng nó.
Bản chất giai cấp của quân đội không phải tự phát hình thành mà phải trải qua quá trình lâu dài và được củng cố liên tục. Bản chất giai cấp quân đội là tương đối ổn định, nhưng không phải là bất biến. Sự vận động phát triển bản chất giai cấp của quân đội bị chi phối bởi nhiều yếu tố như: Giai cấp, nhà nước, các lực lượng, tổ chức chính trị xã hội và việc giải quyết các mối quan hệ trong nội bộ trong quân đội. Do sự tác động của các yếu tố trên mà bản chất giai cấp của quân đội có thể được tăng cường hoặc bị phai nhạt, thậm chí bị biến chất và tuột khỏi tay nhà nước, giai cấp đã tổ chức ra, nuôi dưỡng quân đội đó. Sự thay đổi bản chất giai cấp quân đội diễn ra dần dần thông qua việc tăng cường hoặc suy yếu dần các mối quan hệ trên.
Ngày nay, các học giả tư sản thường rêu rao luận điểm “phi chính trị hóa quân đội”, cho quân đội phải đứng ngoài chính trị, quân đội là công cụ bạo động của toàn xã hội, không mang bản chất giai cấp. Thực chất quan điểm “phi chính trị hóa quân đội” của các học giả tư sản nhằm làm suy yếu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, làm giảm sức mạnh chiến đấu, từng bước làm thoái hóa về chính trị tư tưởng, phai nhạt bản chất cách mạng của quân độ. Thực chất đây là một chiến lược của âm mưu bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế quốc.
Ngoài ra, mặt trái của nền kinh tế thị trường tác động không nhỏ tới tăng cường bản chất giai cấp công nhân, bản chất cách mạng của quân đội. Những biểu hiện cường điệu lợi ích vật chất, lề thói thực dụng, cơ hội về chính trị, sự suy giảm về đạo đức cách mạng là những cản trở trong xây dựng quân đội cách mạng hiện nay.
Sức mạnh chiến đấu của quân đội
Theo Mác và Ăngghen sức mạnh chiến đấu của quân đội phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: con người, các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, vũ khí trang bị, khoa học quân sự và phương thức sản xuất. Các ông rất chú trọng đến khâu đào tạo cán bộ chính trị quân sự, đánh giá nhận xét về tài năng của nhiều nhà quân sự trong lịch sử, đồng thời phê phán sự yếu kém của nhiều tướng lĩnh quân sự.
Bảo vệ và phát triển lí luận của của Mác và Ăngghen về quân đội, Lênin chỉ rõ sức mạnh chiến đấu của quân đội phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó khẳng định, vai trò quyết định của nhân tố chính trị tinh thần trong chiến tranh, Người nói: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi, thất bại đều tùy thuộc vào trạng thái chính trị tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường quyết định”.
Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về bảo vệ Tổ quốc XHCN
Bảo vệ Tổ quốc XHCN là tất yếu, khách quan:
+ Ngay sau khi Cách mạng tháng 10 Nga thành công, chủ nghĩa đế quốc tìm mọi cách tiêu diệt
Lênin đã chứng minh tính tất yếu khách quan phải bảo vệ thành quả cách mạng của giai cấp vô sản chống lại sự tấn công vũ trang của Nhà nước Tư bản, đế quốc. Bởi vì bản chất của chủ nghĩa đế quốc là xâm lược phải ngăn chặn mưu đồ của chúng. Lênin nhấn mạnh: “Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc XHCN phải tiến hành ngay khi giai cấp vô sản giành được chính quyền, kéo dài đến hết thời kỳ quá độ cho đến khi nào không còn sự phản kháng của giai cấp Tư bản – Đế quốc”.
Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc XHCN là nghĩa vụ, trách nhiệm cuả toàn dân tộc, toàn thể giai cấp công nhân, nông dân và nhân dân lao động.
Trong những năm đầu của chính quyền Xô viết, Lênin trực tiếp lãnh đạo xây dựng đất nước, chống lại sự can thiệp của các nước đế quốc, tư bản và tiến hành nội chiến cách mạng. Đó là những năm tháng cực kỳ khó khăn, gian khổ.
Lênin chỉ rõ: “Bảo vệ Tổ quốc XHCN là nghĩa vụ, là trách nhiệm của toàn đảng, toàn dân, của giai cấp vô sản trong nước, nhân dân lao động và giai cấp vô sản thế giới có nghĩa vụ ủng hộ sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc XHCN”. Người nhắc nhở mọi người phải cảnh giác đánh giá đúng kẻ thù, tuyệt đối không được chủ quan “Phải có thái độ nghiêm túc đối với quốc phòng”.
Lênin luôn lạc quan tin tưởng ở sức mạnh bảo vệ Tổ quốc của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Người nói: “Không bao giờ ta có thể chiến thắng được một dân tộc và đa số công nhân và nông dân đã biết, đã cảm và trông thấy họ bảo vệ chính quyền của mình, chính quyền Xô viết, chính quyền của những người lao động, rằng họ bảo vệ sự nghiệp mà một khi thắng lợi sẽ bảo đảm cho họ, cũng như con cái họ, có khả năng hưởng thụ mọi thành quả văn hoá, mọi thành quả lao động của con người”.
Mục tiêu bảo vệ Tổ quốc là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, là nghĩa vụ và trách nhiệm của mọi công dân
Bảo vệ Tổ quốc XHCN, là phải thường xuyên tăng cường tiềm lực quốc phòng gắn với phát triển KT-XH
Học thuyết bảo vệ Tổ quốc XHCN của Lênin khẳng định: Bảo vệ Tổ quốc XHCN là sự nghiệp thiêng liêng, cao cả, mang tính cách mạn, chính nghĩa và có ý nghĩa quốc tế sâu sắc, sự nghiệp đó phải được quan tâm, chuẩn bị chu đáo và kiên quyết. Lênin đã đưa ra nhiều biện pháp về bảo vệ Tổ quốc như: Củng cố chính quyền Xô viết ở các cấp; Bài trừ nội phản, tiêu diệt bạch vệ: Đẩy mạnh phát triển kinh tế văn hoá, khoa học kỹ thuật, vận dụng đường lối đối ngoại khôn khéo, kiên quyết về nguyên tắc, mềm dẻo về sách lược, triệt để lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù; Hết sức chăm lo xây dựng quân đội kiểu mới. Lênin cùng Đảng Bôn-Sê-Vích Nga lãnh đạo nhân dân, tranh thủ thời gian hòa bình, xây dựng đất nước mạnh lên về mọi mặt, từng bước biến các tiềm lực thành sức mạnh hiện thực của nền quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc XHCN.
Đảng cộng sản lãnh đạo mọi mặt sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc XHCN:
Lênin chỉ ra rằng: Đảng cộng sản phải lãnh đạo mọi mặt sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Đảng phải đề ra chủ trương, chính sách phù hợp với tình hình, có sáng kiến để lôi kéo quần chúng và phải có đội ngũ Đảng viên gương mẫu, hi sinh.
Trong quân đội, chế độ chính uỷ được thực hiện, cán bộ chính trị được lấy từ những đại biểu ưu tú của công nhân, thực chất đó là người đại diện của Đảng, để thực hiện sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội.
Đảng hướng dẫn, giám sát các hoạt động của các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội, các đoàn thể nhân dân lao động.
Sự lãnh đạo của Đảng cộng sản là nguyên tắc cao nhất, là nguồn gốc sức mạnh bảo vệ vững chắc tổ quốc XHCN.
[… Vui lòng tải về để copy nội dung tài liệu này]
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ: Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu! |