THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 21 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0058.
- Pháp luật áp dụng: Hiến pháp năm 2013.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2024] Các nguyên tắc quản lý nhà nước về kinh tế theo Hiến pháp năm 2013 và từ đó đưa ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả thực thi chính sách kinh tế của nhà nước CHXHCN Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 2 cac nguyen tac quan ly nha nuoc ve kinh te theo hien phap nam 2013 2](https://tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2024/02/cac-nguyen-tac-quan-ly-nha-nuoc-ve-kinh-te-theo-hien-phap-nam-2013-2.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG | 2 |
| 1.1. Các khái niệm cơ bản | 2 |
| 1.2. Quản lý nhà nước về kinh tế ở Việt Nam hiện nay | 2 |
| 1.2.1. Thống nhất lãnh đạo chính trị và kinh tế | 3 |
| 1.2.2. Tập trung dân chủ | 4 |
| 1.2.3. Kết hợp hài hòa các lợi ích xã hội | 5 |
| 1.2.4. Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả | 6 |
| 1.3. Phân tích nội dung chính sách kinh tế của nhà nước | 6 |
| 1.3.1. Những chế định về nguyên tắc quản lý nhà nước về kinh tế qua các bản Hiến pháp | 6 |
| 1.3.2. Các nguyên tắc quản lý Nhà nước về kinh tế trong Hiến pháp 2013 | 8 |
| CHƯƠNG 2: LIÊN HỆ THỰC TIỄN NƯỚC TA HIỆN NAY | 12 |
| 2.1. Thực trạng | 12 |
| 2.2. Phương pháp quản lý | 13 |
| KẾT LUẬN | 17 |
| TÀI LIỆU THAM KHẢO | 18 |
LỜI MỞ ĐẦU
Chúng ta vẫn biết rằng quản lý kinh tế là một bộ phận quan trọng trong hoạt động của toàn bộ đất nước, đặc biệt là các nước xã hội chủ nghĩa. Đối với các nước xã hội chủ nghĩa, tổ chức và xây dựng nền kinh tế lành mạnh, hiệu lực, hiệu quả, đi đúng hướng là hoạt động quan trọng tất yếu. Vì vậy, trong quá trình điều hành nền kinh tế hàng hoá đa dạng theo cơ chế thị trường, sự quản lý của nhà nước đối với nền kinh tế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bất kỳ nền kinh tế nào cũng cần có sự quản lý của nhà nước. Nền kinh tế thị trường càng phát triển thì nhu cầu tăng cường vai trò quản lý kinh tế quốc dân càng lớn. Ở đây, nhà nước với tư cách là chủ thể của quyền lực công tác động lên các chủ thể kinh tế.
Các chủ thể tham gia trực tiếp vào hoạt động kinh tế là chủ thể trong hệ thống kinh tế quốc dân, ngày càng trở nên quan trọng hơn, đòi hỏi các chủ thể đầu tiên phải luôn biết cách tự điều chỉnh bản chất của mình. Các hành động theo quy định và thể chế chống lại thực thể thứ hai. Cơ quan chủ yếu của cơ quan chính thứ hai của hệ thống kinh tế quốc dân bao gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, gia đình, tập đoàn hoạt động kinh tế và cá nhân thuộc các thành phần kinh tế.
Cũng như các nước xã hội chủ nghĩa khác, Việt Nam trước đây là một nền kinh tế tập trung, mọi thứ đều do nhà nước quản lý, không có thị trường. Nền kinh tế không khá hơn là bao, thậm chí còn tệ hơn. Tuy nhiên, không thể phủ nhận tầm quan trọng của quản lý nhà nước đối với nền kinh tế. Để phát triển nền kinh tế một cách toàn diện, nhà nước đã xây dựng các nguyên tắc quản lý nhà nước. Đây cũng là một chủ đề được quan tâm trong bài viết này.
Chính vì vậy, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Các nguyên tắc quản lý nhà nước về kinh tế theo Hiến pháp năm 2013 và từ đó đưa ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả thực thi chính sách kinh tế của nhà nước CHXHCN Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” để đưa ra những nhìn nhận, đánh giá về các vấn đề lý luận và thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về các nội dung liên quan đến nguyên tắc quản lý nhà nước về kinh tế cũng như các chính sách phù hợp trong giai đoạn hiện nay.
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1.1. Các khái niệm cơ bản
Hệ thống kinh tế được tạo ra nhằm đạt được những mục tiêu chính trị, kinh tế, xã hội nhất định, thể hiện trình độ phát triển của một quốc gia, điều hành hệ thống các nguyên tắc và quy luật trong lĩnh vực kinh tế. Sự quản lý của nhà nước đối với nền kinh tế là sự tác động có tổ chức và hợp pháp của nhà nước đối với nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực và cơ hội kinh tế trong và ngoài nước. đúng rồi. Các mục tiêu phát triển kinh tế đã thiết lập của đất nước phải đạt được trong bối cảnh hội nhập và mở rộng quốc tế.
Thực chất của kinh tế quản lý nhà nước là tổ chức và sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực trong và ngoài nước của đất nước có ảnh hưởng đến công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Trong đó, vấn đề lớn nhất trong việc thu hút, tổ chức và tạo động lực cho người lao động trong xã hội là vấn đề mấu chốt.
1.2. Quản lý nhà nước về kinh tế ở Việt Nam hiện nay
Nguyên tắc quản lý nhà nước về kinh tế là những quy tắc mang tính hướng dẫn mà các cơ quan quản lý nhà nước phải chấp hành trong quá trình quản lý kinh tế. Yêu cầu của các nguyên tắc quản lý kinh tế đó là: (i) Các nguyên tắc quản lý kinh tế do con người xây dựng, không phải do tư duy chủ quan và phải đáp ứng yêu cầu khách quan của pháp luật, (ii) Các nguyên tắc phải phù hợp với mục tiêu quản lý, (iii) Các nguyên tắc phải phản ánh chính xác bản chất và mối quan hệ quản lý, (iv) Các nguyên tắc quản lý phải có tính hệ thống và phải được pháp luật bảo đảm.
Đối với nước ta, theo quan điểm của Đảng hiện nay, các nguyên tắc quản lý kinh tế ở cấp quốc gia là: (i) Thống nhất lãnh đạo kinh tế và chính trị (trước hết là chính trị), (ii) Tập trung lãnh đạo kinh tế và chính trị, dân chủ, (iii) Kết hợp hài hòa giữa các lợi ích, (iv) Hiệu quả và tiết kiệm.
1.2.1. Thống nhất lãnh đạo chính trị và kinh tế
Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của quản lý kinh tế, thống nhất lãnh đạo kinh tế và chính trị, bảo đảm mối quan hệ đúng đắn giữa kinh tế và chính trị, tạo động lực phát triển tích cực cho mọi người trong xã hội.
Không có sự phân chia chính trị dưới chủ nghĩa xã hội, vì nhân dân là chủ sở hữu thực sự của tư liệu sản xuất, họ kiểm soát quyền lực và sự tiến bộ, và không có sự thù địch giai cấp. Tuy nhiên, do không có nền tảng kinh tế xã hội chủ nghĩa nên không thể thích ứng ngay chính trị với yêu cầu kinh tế, và công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa được tiến hành trong một cuộc đấu tranh (kinh tế) quyết liệt. Tư tưởng và đấu tranh chính trị của các thế lực thù địch trong nước cũng phức tạp như đấu tranh giai cấp trên trường quốc tế, không thể có sự thích ứng trực tiếp giữa chính trị và kinh tế. Trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước này hay nước khác, vấn đề chính trị thích ứng hoàn toàn với nhu cầu phát triển kinh tế trong khuôn khổ con người được thừa nhận vẫn chưa được giải quyết.
Sự thống nhất và tác động qua lại khách quan của chính trị và kinh tế thể hiện ở nhiều đặc điểm. Chính trị và kinh tế là hai lĩnh vực hoạt động khác nhau của con người, nhưng hai lĩnh vực này phát triển thống nhất và phụ thuộc lẫn nhau, sự thống nhất và tác động qua lại của chúng không hoàn toàn giống nhau hay cùng với nhau. Không thể thấy ngay lợi ích kinh tế đầy đủ và trực tiếp trong mọi hành động chính trị. Đôi khi, để thu được những lợi ích kinh tế nhất định, cần phải áp dụng một loạt các biện pháp chính trị mang tính chất quá độ. Trường hợp lợi ích kinh tế trực tiếp không đáng kể và được con người chấp nhận, thì có thể có lợi ích chính trị.
Trong sự thống nhất giữa chính trị và kinh tế thì kinh tế là yếu tố quyết định. Trên cơ sở tự nguyện vận dụng các quy luật khách quan, các nước xã hội chủ nghĩa đang đóng vai trò đầu tàu trong công cuộc đổi mới kinh tế. Nhưng mức độ phức tạp trong lĩnh vực chính trị cuối cùng phụ thuộc vào điều kiện kinh tế. Do hoàn cảnh sống tạm bợ như hiện nay, phong trào đấu tranh chính trị ngày càng suy yếu ở các nước tư bản. Chính trị không phải là một cách thụ động của thực tế kinh tế. Nó là phương tiện mạnh mẽ để tác động vào quá trình kinh tế khách quan. Tác động tiêu cực của chính phủ quốc gia đến phát triển kinh tế được chia thành ba loại: tích cực, tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, tiêu cực, kìm hãm sự phát triển kinh tế hoặc kìm hãm sự phát triển kinh tế. Nó một mặt cản trở sự phát triển kinh tế, mặt khác nó thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, chính trị và kinh tế không thể tách rời, vì đường lối của Đảng là nền tảng của mọi sự lãnh đạo kinh tế và là phương hướng phát triển kinh tế bền vững.
Phát huy hết vai trò của cơ quan hành chính quốc gia. Cụ thể, đất nước phải biến đường lối, chính sách của Đảng thành kế sách đối phó với nguy cơ tụt hậu về kinh tế so với khu vực và các nước trên thế giới, đồng thời dùng sức mình để nâng cao hiệu quả hoạt động, hoàn thiện hệ thống kinh tế và pháp luật. hệ thống. Luật làm cho luật được thực thi nghiêm minh. Nhà nước cần quan tâm, giải quyết các vấn đề về cán bộ, vấn đề lao động, việc làm, đời sống của nhân dân; thực hiện kế hoạch do nhà nước xây dựng; cuối cùng là kiểm tra, tổng kết việc thực hiện quy hoạch. Phát triển kinh tế sản xuất và coi trọng quốc phòng an ninh. Chống tham nhũng, quan liêu, đồng thời chống nguy cơ diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch.
1.2.2. Tập trung dân chủ
Tập trung dân chủ là bảo đảm mối quan hệ chặt chẽ và tối ưu của tập trung dân chủ trong quản lý kinh tế. Tập trung quyền lực phải được thiết lập trên cơ sở dân chủ, dân chủ phải được thực hiện trong khuôn khổ tập trung quyền lực. Điều 6 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Quốc hội, Uỷ ban nhân dân và các cơ quan khác của nhà nước được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ”.
Nguyên tắc tập trung dân chủ được thể hiện rất rõ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta. Các cơ quan quyền lực nhà nước do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Các cơ quan hành chính nhà nước, toà án, viện kiểm sát đều do các cơ quan quyền lực nhà nước bầu ra và chịu trách nhiệm về cơ quan do mình bầu ra. Cơ quan nhà nước cấp dưới phải phục tùng cơ quan nhà nước cấp trên; chính quyền địa phương các cấp phải phục tùng chính quyền trung ương. Kiện toàn cơ quan quản lý thống nhất ở Trung ương, kết hợp chặt chẽ với phân quyền hợp lý, nâng cao và phát huy tính chủ động, sáng tạo của chính quyền địa phương và cơ sở. Đa số phục tùng đa số, cá nhân phục tùng tập thể, mọi người phục tùng sự lãnh đạo của cơ quan nhà nước được tổ chức theo quy định của người đứng đầu cơ quan nhà nước và chế độ quản lý công việc.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 100.000 VNĐ (.docx)