THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 36 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0079.
- Pháp luật áp dụng: Luật Thương mại năm 2005.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2024] Hợp đồng cung ứng - phân phối trong thương mại: Lý luận và thực tiễn (9.0 điểm) (MS-B0079) 3 hop dong cung ung va phan phoi trong thuong mai 3](https://tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2024/02/hop-dong-cung-ung-va-phan-phoi-trong-thuong-mai-3.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài | 1 |
| 2. Mục tiêu của đề tài | 2 |
| 3. Đối tượng nghiên cứu | 3 |
| 4. Phạm vi nghiên cứu | 3 |
| 5. Tổng quan tình hình nghiên cứu | 4 |
| 6. Phương pháp nghiên cứu | 4 |
| 7. Bố cục và nội dung chính | 5 |
| CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KHUNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI | 6 |
| 1.1. Khái quát về hợp đồng cung ứng dịch vụ | 6 |
| 1.1.1. Khái niệm hợp đồng cung ứng dịch vụ | 6 |
| 1.1.2. Đặc điểm hoạt động cung ứng dịch vụ | 6 |
| 1.2. Phân loại hợp đồng cung ứng dịch vụ thương mại | 11 |
| 1.3. Một số nguyên tắc cơ bản của pháp luật về hợp đồng cung ứng dịch vụ trong hoạt động thương mại | 12 |
| 1.4. Vai trò của hợp đồng cung ứng dịch vụ đối với các doanh nghiệp | 13 |
| CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KHUNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG PHÂN PHỐI HÀNG HÓA TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI | 15 |
| 2.1. Khái quát về hợp đồng phân phối hàng hóa trong thương mại | 15 |
| 2.1.1. Khái niệm | 15 |
| 2.1.2. Những vấn đề cơ bản của hợp đồng phân phối | 17 |
| 2.2. Phân loại hợp đồng phân phối | 21 |
| 2.3. Vai trò của hợp đồng phân phối đối với các doanh nghiệp | 22 |
| CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT, TRANH CHẤP, KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP CỦA HỢP ĐỒNG CUNG ỨNG - PHÂN PHỐI | 23 |
| 3.1. Thực tiễn áp dụng | 23 |
| 3.2. Những tranh chấp thường thấy trong việc áp dụng hợp động cung ứng - phân phối trong thương mại và đề xuất hướng giải quyết | 24 |
| 3.2.1. Những tranh chấp thường thấy ở các hợp đồng cung ứng và phân phối | 24 |
| 3.2.2. Ý kiến, đề xuất và giải pháp | 26 |
| KẾT LUẬN | 28 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 29 |
LỜI MỞ ĐẦU
Từ sau công cuộc đổi mới năm 1986 đến nay, đất nước ta đã có những chuyển biến mạnh mẽ, đạt được nhiều thành tựu to lớn, đặc biệt về lĩnh vực kinh tế. Bối cảnh đó đòi hỏi những quy định của luật phải thật chặt chẽ và phù hợp với sự phát triển và thay đổi không ngừng đó. Mặt khác, hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ chính là nền tảng, là trung tâm của mọi nền kinh tế của mỗi đất nước. Vì vậy, muốn nước ta không bị lạc hậu và tạo điều kiện thuận lợi các hoạt động thương mại, Luật Thương mại cần được quan tâm, đánh giá toàn diện, sửa chữa những thiếu sót và hạn chế để hoàn thiện hơn. Một trong số những vấn đề đang tồn tại của Luật Thương mại mà nhóm tác giả mong muốn đi sâu tìm hiểu, phân tích đó chính là “Hợp đồng cung ứng – phân phối trong thương mại: Lý luận và thực tiễn”. Vì vậy, nhóm tác giả chọn lựa đề tài này để làm một bài tiểu luận nhỏ nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng, cũng như nêu lên quan điểm và kiến nghị cá nhân, đóng góp một góc nhìn khách quan mới về vấn đề này.
Vì trình độ và vốn kiến thức còn hạn chế, vốn sống còn non trẻ, nhóm tác giả xin được sưu tầm tài liệu liên quan, tổng hợp thông tin, từ đó đưa ra kết luận riêng của mình. Trong quá trình tìm hiểu về đề tài này, nhóm chúng em cũng tự nhận thấy những hạn chế và thiếu sót của mình. Điều đó là không tránh khỏi đối với tất cả sinh viên như chúng em. Kính mong cô có thể nhận xét thẳng thắn để chúng em có thêm nhiều kiến thức, cũng như hoàn thiện kỹ năng của mình.
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Từ những tác động tự nhiên của thị trường như yêu cầu về quy mô, hiệu quả, gia nhập thị trường, sự lưu thông hàng hóa, các quy định pháp luật chuyên ngành… đã tạo điều kiện để xã hội hình thành nên một loại hợp đồng mới trong lĩnh vực thương mại là hợp đồng cung ứng – phân phối trong hoạt động thương mại. Những thương nhân có khuynh hướng khai thác các yếu tố của thị trường (về giá cả, sản phẩm, chất lượng…) để thu lợi ích từ khách hàng, người tiêu dùng, hơn thế nữa còn mong muốn hạn chế khả năng cạnh tranh của đối thủ bằng việc phân phối độc quyền nhằm duy trì vị thế của bản thân. Nhưng trong thực tiễn áp dụng hợp đồng cung ứng – phân phối trong thương mại có rất nhiều vấn đề tranh chấp phát sinh do khách quan hoặc chủ quan. Chủ quan là do chính bản thân thương nhân thiếu hiểu biết hoặc biết nhưng cố tình nhằm trục lợi. Khách quan là quy định trong pháp luật hiện nay về hợp đồng này vẫn còn tồn tại nhiều bất cập tạo nên kẽ hở khiến một bên tham gia vào hợp đồng cung ứng – phân phối trong thương mại gặp bất lợi. Khi đó, sự can thiệp của Nhà nước đối với thị trường ở mức độ nhất định là cần thiết để đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng giữa các chủ thể trong thương mại, trong đó, pháp luật thương mại được coi là công cụ quan trọng và hiệu quả nhất.
Trong bối cảnh của dịch bệnh COVID – 19 kéo dài như hiện nay gây nên những hậu quả xấu đến mọi lĩnh vực trong cuộc sống, hoạt động thương mại cũng không ngoại lệ, nhất là trong việc cung ứng hàng hóa. Kể từ khi bắt đầu cuộc khủng hoảng COVID- 19, thì có đường vận tải hàng hóa đều bị hạn chế, các giao dịch thương mại gặp khó khăn để có thể tiếp xúc gần giữa các thương nhân với nhau, giữa nhà cung cấp và người tiêu dùng bởi giãn cách xã hội… đã tạo nên các rào cản trong việc phát triển thương mại.
Bởi vậy, nhóm tác giả đã lựa chọn đề tài: “Hợp đồng cung ứng – phân phối trong thương mại. Lý luận và thực tiễn” để nghiên cứu với hy vọng giúp mọi người hiểu rõ hơn về các quy định của pháp luật thương mại ở Việt Nam.
2. Mục tiêu của đề tài
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn thực thi pháp luật về hợp đồng cung ứng – phân phối trong thương mại, tiểu luận hướng đến mục đích đóng góp các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về hợp đồng cung ứng – phân phối trong thương mại.
Để đạt được mục đích nghiên cứu cơ bản như trên, trong bài nghiên cứu này nhóm tác giả xác định 03 nhiệm vụ cần phải đạt được gồm:
Một là, nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về hợp đồng cung ứng – phân phối trong thương mại như phân tích và làm rõ các khái niệm hợp đồng cung ứng, hợp đồng phân phối trong hoạt động thương mại
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng điều chỉnh pháp luật về hợp đồng cung ứng – phân phối trong hoạt động thương mại. Tìm hiểu nguyên nhân của việc thực thi pháp luật chưa hiệu quả.
Ba là, từ thực tiễn của Việt Nam đề xuất định hướng và các giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về hợp đồng cung ứng – phân phối trong hoạt động thương mại.
3. Đối tượng nghiên cứu
Với đề tài “Hợp đồng cung ứng – phân phối trong hoạt động thương mại. Lý luận và thực tiễn” mà nhóm tác giả đã chọn thì đối tượng nghiên cứu chính của nhóm tác giả chính là các quy định pháp luật về thương mại nói chung hay hợp đồng thương mại của Việt Nam nói riêng và các văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan. Cụ thể nhóm tác giả sẽ dựa trên Luật Thương Mại 2005 và Bộ Luật Dân Sự 2015 để phân tích.
Ngoài ra, nhóm tác giả còn nghiên cứu và tìm hiểu thêm các bài nghiên cứu, đánh giá của các tác giả khác về đề tài trên. Song song với đó là thu thập các thông tin về thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng cung ứng – phân phối trong hoạt động thương mại của Việt Nam. Tiểu luận chỉ tập trung nghiên cứu pháp luật về hợp đồng cung ứng – phân phối trong thương mại của Việt Nam, như vậy sẽ không bao gồm các hành vi thương mại khác.
4. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực trạng quy định và thực tiễn thực thi pháp luật về hợp đồng cung ứng – phân phối trong thương mại tại Việt Nam.
Phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu pháp luật về hợp đồng cung ứng – phân phối trong thương mại trong khoảng thời gian từ năm Luật Thương Mại 2005 có hiệu lực đến thời điểm hiện tại.
Phạm vi về văn bản quy phạm pháp luật: Nghiên cứu các quy định về hợp đồng cung ứng – phân phối trong thương mại trong Luật và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan hướng dẫn thi hành
5. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Mặc dù nhóm tác giả gặp khá nhiều khó khăn trong việc tập hợp các tài liệu tham khảo vì đa phần các bài nghiên cứu đánh giá đều nói về từng loại hợp đồng chứ chưa có sự so sánh và nêu ra thực trạng của cả 2 loại hợp đồng trên. Hơn thế nữa do tình hình dịch Covid diễn biến phức tạp nhưng nhờ sự hỗ trợ, giảng dạy của giáo viên bộ môn và sự đoàn kết của nhóm tác giả nên tình hình nghiên cứu đề tài của nhóm tác giả có thể nói cũng đã hoàn thành tốt bài viết của mình.
6. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu, nhóm tác giả sẽ sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý như phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp so sánh…
Phương pháp lý thuyết: Phương pháp này được sử dụng phần lớn trong bài nghiên cứu của nhóm tác giả, nhưng chủ yếu tập trung ở chương I và chương II. Nhóm tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết này nhằm mục đích nghiên cứu các sách báo, tài liệu trên không gian mạng về chuyên môn, cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu, nội dung liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu cho đề tài, cụ thể ở đây là những khái niệm, những quy định về trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật. Đây là những cơ sở lý luận nền tảng vững chắc giúp cho bài nghiên cứu của nhóm có khả năng thuyết phục hơn. Hơn nữa, những lý thuyết này giúp cho bài nghiên cứu có thể đi sâu vào nhiều khía cạnh hơn, giúp nhóm tác giả nhìn vấn đề một cách đúng đắn nhất và toàn diện nhất.
Phương pháp phân tích – tổng hợp: Dựa vào các thông tin đã thu thập được, và dựa trên các khái niệm được quy định cụ thể trong các luật và văn bản quy phạm pháp luật liên quan thì nhóm tác giả tiến hành phân tích, làm rõ các nội dung liên quan đến đề tài “Hợp đồng cung ứng- phân phối trong hoạt động thương mại”.
Và nhiều phương pháp liên quan khác.
7. Bố cục và nội dung chính
Ngoài các nội dung của phần mở đầu của đề tài thì bố cục của bài nghiên cứu được nhóm tác giả triển khai như sau:
Phần 1: Những vấn đề lý luận và khung pháp luật về hợp đồng cung ứng dịch vụ trong hoạt động thương mại
Phần 2: Những vấn đề lý luận và khung pháp luật về hợp đồng phân phối hàng hóa trong hoạt động thương mại
Phần 3: Thực trạng áp dụng, tranh chấp, kiến nghị và giải pháp để hoàn thiện khung pháp luật về hợp đồng cung ứng – phân phối trong hợp đồng thương mại tại Việt Nam.
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KHUNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát về hợp đồng cung ứng dịch vụ
1.1.1. Khái niệm hợp đồng cung ứng dịch vụ
Đầu tiên, chúng ta cần đi qua khái niệm hợp đồng dịch vụ là gì? Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên ký hợp đồng, theo đó bên cung ứng dịch vụ sẽ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ (khách hàng) và bên sử dụng dịch vụ phải trả một khoản phí dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ[1].
Như vậy có thể hiểu rằng hợp đồng cung ứng dịch vụ chính là sự thỏa thuận giữa các bên khi tham gia vào hợp đồng, mà trong đó một bên được gọi là bên cung ứng dịch vụ sẽ nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán từ bên mà bên cung ứng dịch vụ đã thực hiện dịch vụ cho, đó là bên sử dụng dịch vụ hay còn được gọi là khách hàng và khách hàng có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ theo thỏa thuận[2].
1.1.2. Đặc điểm hoạt động cung ứng dịch vụ
1.1.2.1. Chủ thể
Chủ thể của hợp đồng cung ứng dịch vụ là bên cung ứng dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ (khách hàng); hai bên là bên cung ứng dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ có thể là cá nhân, tổ chức. Song, hoạt động cung ứng dịch vụ là một hoạt động thương mại. Do đó, bên cung ứng dịch vụ buộc phải là thương nhân[3]. Đối với các hoạt động cung ứng dịch vụ như: logistic, dịch vụ quá cảnh hàng hóa, dịch vụ giám định thương mại,…thì bên cung ứng dịch vụ phải là thương nhân đáp ứng những điều kiện kinh doanh nhất định theo quy định của pháp luật. Ví dụ: thương nhân kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải biển thì phải đáp ứng các điều kiện được quy định tại Nghị định 160/2016/NĐ-CP[4].
1.1.2.2. Hình thức hợp đồng cung ứng dịch vụ
Hợp đồng dịch vụ được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể[5] .
Đối với các loại hợp đồng dịch vụ mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó. Từ đó, có thể thấy hợp đồng dịch vụ rất đa dạng, tùy theo đối tượng của hợp đồng dịch vụ là gì mà lựa chọn một hình thức phù hợp.
1.1.2.3. Nội dung của hợp đồng cung ứng
Thứ nhất, về đối tượng của hợp đồng
Theo quy định tại Điều 513 BLDS 2015 thì đối tượng của hợp đồng dịch vụ đó là công việc mà bên cung ứng dịch vụ có thể thực hiện trong khả năng dựa trên yêu cầu mà khách hàng đưa ra. Tuy nhiên, phạm vi công việc cũng phải tuân thủ quy định của pháp luật đó là các công việc không vi phạm điều cấm của luật và không được trái đạo đức xã hội.
Hay trong trường hợp cần thiết, chứa mục đích bảo vệ an ninh quốc gia hoặc các lợi ích quốc gia khác phù hợp với pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, Thủ tướng Chính phủ có thể ra quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp đối với hoạt động cung ứng hoặc sử dụng dịch vụ, bao gồm việc tạm thời cấm cung ứng hoặc sử dụng đối với một hoặc một số loại dịch vụ hoặc các biện pháp khẩn cấp khác đối với một hoặc một số thị trường cụ thể trong một thời gian nhất định[6].
Trong tên của hợp đồng cũng đã nói lên được đối tượng chính của loại hợp đồng này, khác với các loại hợp đồng khác ví dụ như hợp đồng phân phối mà nhóm tác giả sẽ phân tích ở chương 2 thì đối tượng của hợp đồng cung ứng chính là dịch vụ. Trong Luật thương mại 2005 không giải thích cụ thể “dịch vụ” là gì nhưng trong Luật giá năm 2012 có quy định “Dịch vụ là hàng hóa mang tính vô hình, trong quát trình sản xuất và tiêu dùng không hề tách rời nhau”. Mặc dù không giải thích nhưng trong Luật Thương Mại 2005 cũng quy định về các hoạt động dịch vụ thương mại như dịch vụ xúc tiến thương mại, dịch vụ trung gian thương mại…
Thứ hai, về quyền và nghĩa vụ của khách hàng
Nghĩa vụ của khách hàng
Theo quy định tại Điều 85, Luật Thương mại 2005, nếu các bên không có thỏa thuận khách thì khách hàng trong hợp đồng cung ứng dịch vụ có những nghĩa vụ sau.
Khách hàng phải thực hiện việc thanh toán phí cung ứng dịch vụ như đã có thỏa thuận trong hợp đồng và đồng thời, cung cấp kịp thời những kế hoạch, chỉ dẫn cũng như những chi tiết khác để việc cung ứng dịch vụ được thực hiện một cách suôn sẻ. Khách hàng phải có thiện chí hợp tác trong tất cả những trường hợp cần thiết khác để bên cung ứng có thể thực hiện quá trình cung ứng dịch vụ một cách thuận lợi. Trường hợp một dịch vụ do nhiều bên cung ứng dịch vụ cùng tiến hành hoặc phối hợp với bên cung ứng dịch vụ khác, khách hàng có nghĩa vụ điều phối hoạt động của các bên cung ứng dịch vụ để không gây cản trở đến công việc của bất kỳ bên cung ứng dịch vụ nào.
Quyền của bên sử dụng dịch vụ
Hợp đồng cung ứng dịch vụ là một loại hợp đồng song vụ, do đó quyền của bên này sẽ là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại. Vậy nên, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ cũng chính là quyền của khách hàng. Cụ thể như sau: Được thụ hưởng kết quả của hoạt động cung ứng dịch vụ; yêu cầu bên cung ứng dịch vụ giữ bí mật thông tin liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ; yêu cầu bên cung ứng dịch vụ báo cáo về tiến độ của hoạt động cung ứng dịch vụ.
Bên cạnh đó, còn dựa vào tính chất, đặc điểm từng loại dịch vụ cụ thể mà bên khách hàng còn có các quyền liên quan đến đặc thù của hoạt động dịch vụ đó.
Thứ ba, về quyền và nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ
Bên cung ứng dịch vụ trong hợp đồng phải dùng công sức của mình để hoàn thành, thực hiện một công việc do bên sử dụng dịch vụ yêu cầu. Trong thời gian thực hiện hợp đồng phải tự mình lên kế hoạch thực hiện công việc. Khi hết hạn của hợp đồng phải giao lại kết quả của công việc mà mình đã thực hiện cho bên sử dụng dịch vụ.
Nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ
Theo Điều 78 Luật Thương mại 2005, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác thì bên cung ứng dịch vụ có các quyền sau đây. Cung ứng các dịch vụ và thực hiện những công việc có liên quan một cách đầy đủ, phù hợp với thỏa thuận và theo quy định của Luật này; bảo quản và giao lại cho khách hàng tài liệu và phương tiện được giao để thực hiện dịch vụ sau khi hoàn thành công việc. Trong trường hợp thông tin, tài liệu không đầy đủ, phương tiện không bảo đảm để hoàn thành việc cung ứng dịch vụ thì phải thông báo ngay cho khách hàng. Bên cung ứng dịch vụ phải giữ bí mật về thông tin mà mình biết được trong quá trình cung ứng dịch vụ nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
Nếu tính chất của loại dịch vụ được cung ứng yêu cầu bên cung ứng dịch vụ phải đạt được một kết quả nhất định thì bên cung ứng dịch vụ phải thực hiện việc cung ứng dịch vụ với kết quả phù hợp với các điều khoản và mục đích của hợp đồng hoặc kết quả phù hợp với tiêu chuẩn thông thường của loại dịch vụ đó. Nếu tính chất của loại dịch vụ được cung ứng yêu cầu bên cung ứng dịch vụ phải nỗ lực cao nhất để đạt được kết quả mong muốn thì bên cung ứng dịch vụ phải thực hiện nghĩa vụ cung ứng dịch vụ đó với nỗ lực và khả năng cao nhất.
Bên cung ứng dịch vụ phải trao đổi, thông tin với khách hàng về tiến độ công việc và yêu cầu của mình có liên quan đến việc cung ứng dịch vụ, đồng thời phải cung ứng dịch vụ vào thời gian và theo phương thức phù hợp để không gây cản trở đến hoạt động của bên cung ứng dịch vụ đó. Bên này cũng có thể tiến hành bất kỳ hoạt động hợp tác cần thiết nào với các bên cung ứng dịch vụ khác.
Quan trọng nhất, bên cung dịch vụ phải hoàn thành dịch vụ đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng[7].
[1] Điều 513 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2] Khoản 9 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005.
[3] Khái niệm “Thương nhân” được quy định ở điều 6 Luật Thương mại năm 2005 như sau: “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh”.
[4] Nghị định 160/2016/NĐ-CP ngày 29/11/2016 về điều kiện kinh doanh vận tải biển, kinh doanh dịch vụ đại lý tàu biển và dịch vụ lai dắt tàu biển.
[5] Điều 74 Luật Thương mại 2005.
[6] Điều 77 Luật Thương mại 2005.
[7] Điều 79,82 Luật Thương mại năm 2005.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 100.000 VNĐ (.docx)