THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 13 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0091.
- Văn bản áp dụng: Luật cạnh tranh năm 2018
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2024] Kiểm soát tập trung kinh tế theo Luật cạnh tranh năm 2018 2 kiem soat tap trung kinh te theo luat canh tranh nam 2018 2](https://tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2024/02/kiem-soat-tap-trung-kinh-te-theo-luat-canh-tranh-nam-2018-2.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG I: LÍ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SOÁT VIỆC TẬP TRUNG KINH TẾ | 2 |
| 1.1. Khái niệm về kiểm soát tập trung kinh tế | 2 |
| 1.2. Vai trò của việc kiểm soát tập trung kinh tế đối với nền kinh tế | 2 |
| CHƯƠNG II: LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM (2018) VỀ KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ | 3 |
| 2.1. Quy định pháp luật về hoạt động tập trung kinh tế | 3 |
| 2.2. Quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế | 5 |
| 2.3. Xử lý hoạt động tập trung kinh tế vi phạm pháp luật cạnh tranh | 5 |
| CHƯƠNG III: THỰC TIỄN KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ THEO LUẬT CẠNH TRANH (2018) | 7 |
| 3.1. Kết quả đạt được của pháp luật cạnh tranh về kiểm soát tập trung kinh tế | 7 |
| 3.2. Một số hạn chế, bất cập trong pháp luật cạnh tranh về kiểm soát tập trung kinh tế và giải pháp khắc phục | 8 |
| KẾT LUẬN | 10 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 11 |
LỜI MỞ ĐẦU
Trong giai đoạn phát triển đất nước ngày nay, sự cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường vô cùng khốc liệt, các doanh nghiệp để được tồn tại và phát triển cẩn phải luôn tìm cách nâng cao năng lực kinh doanh của chính doanh nghiệp mình. Tập trung kinh tế là một phương án hữu dụng giúp các doanh nghiệp tập trung nguồn vốn hay công nghệ hoạt động nhằm nâng cao năng lực canh tranh trên thị trường, không những thế, tập trung kinh tế còn có thể làm tăng hiệu quả kinh tế theo quy mô và phạm vi, làm giảm chi phí, nâng cao chất lượng và thúc đẩy sản lượng. Việc các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế giữ vai trò tích cực, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, quốc gia có doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa chiếm phầm chủ yếu. Tuy nhiên, nếu quá lạm dụng hoặc không có sự quản lý kịp thời, trong một số trường hợp nhất định, tập trung kinh tế có khả năng gây ảnh hưởng tiêu cực đến cấu trúc thị trường và suy giảm tính cạnh tranh trên thị trường. Vì lý do đó, pháp luật cạnh tranh về kiểm soát việc tập trung kinh tế cần phải đảm bảo sự chặt chẽ chính xác.
CHƯƠNG I: LÍ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SOÁT VIỆC TẬP TRUNG KINH TẾ
1.1. Khái niệm về kiểm soát tập trung kinh tế
Pháp luật Việt Nam không đưa ra khái niệm mang tính khái quát để định nghĩa hành vi tập trung kinh tế mà chỉ liệt kê dưới các hình thức tập trung kinh tế, bao gồm: sáp nhập doanh nghiệp, hợp nhất doanh nghiệp, mua lại doanh nghiệp, liên doanh giữa các doanh nghiệp và các hình thức tập trung kinh tế khác theo quy định của pháp luật.
Chính vì vậy, kiểm soát tập trung kinh tế là toàn bộ các hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc giám sát, tác động vào chủ thể tham gia
tập trung kinh tế hoặc chuẩn bị tham gia tập trung kinh tế trên cơ sở các quy định của pháp luật cạnh tranh.
1.2. Vai trò của việc kiểm soát tập trung kinh tế đối với nền kinh tế
Trong một nền kinh tế, việc một doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, sẽ dẫn đến hạn chế cạnh tranh và nếu tồn tại doanh nghiệp có vị trí độc quyền thì chắc chắn sẽ dẫn đến thủ tiêu cạnh tranh. Vì thế, Nhà nước cần có cơ chế để kiểm soát các quá trình dẫn đến việc hình thành doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường. Với tính chất là một sinh hoạt kinh tế, tự do cạnh tranh tự nó có thể dẫn tới nguy cơ cản trở hoặc tiêu hủy cạnh tranh. Trên thực tế, các quốc gia đều tìm cách phối hợp các phương án trên. Trong đó, giải pháp chính vẫn là phối hợp giữu biện pháp can thiệp để duy trì cạnh tranh và khi độc quyền đã diễn ra, tìm cách giám sát để điều tiết, hạn chế việc lạm dụng vị thế độc quyền.
CHƯƠNG II: LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM (2018) VỀ KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ
2.1. Quy định pháp luật về hoạt động tập trung kinh tế
Các hoạt động tập trung kinh tế diễn ra trong thực tế đời sống kinh tế xã hội rất đa dạng. Để kiểm soát được nó nhằm ngăn chặn những tác động gây hạn chế cạnh tranh đáng kể thì đòi hỏi phải nhận diện được nó. Pháp luật cạnh tranh Việt Nam nhận diện tập trung kinh tế dựa trên các căn cứ chủ yếu là chủ thể, phạm vi không gian, hình thức thực hiện và ngưỡng tập trung kinh tế.
Thứ nhất, chủ thể của hoạt động tập trung kinh tế chỉ có thể là doanh nghiệp mà không phải là hộ kinh doanh, hoạt động tập trung kinh tế chỉ xảy ra khi có ít nhất hai doanh nghiệp cùng tham gia thực hiện, tức là các doanh nghiệp này đã tồn tại trước đó.
Thứ hai, về phạm vi không gian thực hiện hoạt động tập trung kinh tế. Trên thực tế, có nhiều vụ việc cạnh tranh được thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng có ảnh hưởng nhất định đến thị trường Việt Nam. Nhằm hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực, phạm vi điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh hiện hành ngoài trong phạm vi lãnh thổ còn được mở rộng sang cả các hành vi thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam, tạo ra hành lang pháp lý để có thể điều tra và xử lý toàn diện mọi hành vi có tác động hay có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh đến thị trường Việt Nam.
Thứ ba, về hình thức thực hiện tập trung kinh tế. Tập trung kinh tế được quy định trong Điều 29 Luật Cạnh tranh năm 2018 gồm những hình thức sau: sáp nhập doanh nghiệp, hợp nhất doanh nghiệp, mua lại doanh nghiệp, liên doanh giữa các doanh nghiệp và các hình thức tập trung kinh tế khác theo quy định của pháp luật.
Thứ tư, tiêu chí xác định hoạt động tập trung kinh tế thuộc diện bị kiểm soát như sau:
- Ngưỡng thông báo tập trung kinh tế: tại Việt Nam việc kiểm soát tập trung kinh tế được thực hiện theo hình thức tiềm kiểm, trong trường hợp các doanh nghiệp thuộc ngưỡng thông báo tập trung kinh tế quy định tại Điều 13 Nghị định 35/2020/NĐ-CP thì phải thông báo với cơ quan quản lý cạnh tranh trước khi thực hiện hành vi tập trung kinh tế. Có thể thấy, mức thị phần kết hợp trên thị trường liên quan phải thông báo theo quy định hiện hành “từ 20% trở lên” là thấp hơn so với mức “30-50%” trước đây. Điều này cho thấy các nhà làm luật muốn kiểm soát chặt chẽ hơn và sớm hơn các hoạt động tập trung kinh tế.
- Hoạt động tập trung kinh tế bị cấm: Để kiểm soát, ngăn cản việc hình thành một doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, gây ảnh hưởng lớn đối với nền kinh tế thì pháp luật cạnh tranh của Việt Nam kiểm soát và cấm tập trung kinh tế theo hướng hạn chế những tác động tiêu cực của tập trung kinh tế đến thị trường. Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia đánh giá tác động hoặc khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể của việc tập trung kinh tế dựa theo một trong các yếu tố hoặc kết hợp giữa các yếu tố sau:
+ Thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế trên thị trường liên quan
+ Mức độ tập trung trên thị trường liên quan trước và sau khi tập trung kinh tế
+ Mối quan hệ của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế trong chuỗi sản xuất, phân phối, cung ứng đối với một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định hoặc ngành nghề kinh doanh của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế là đầu vào của nhau hoặc bổ trợ cho nhau
+ Lợi thế cạnh tranh do tập trung kinh tế mang lại trên thị trường liên quan
+ Khả năng doanh nghiệp sau tập trung kinh tế tăng giá hoặc tăng tỉ suất lợi nhận trên doanh thu một cách đáng kể
+ Khả năng doanh nghiệp sau tập trung kinh tế loại bỏ hoặc ngăn cản doanh nghiệp khác gia nhập hoặc mở rộng thị trường
+ Yếu tố đặc thù trong ngành, lĩnh vực mà các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế
– Hoạt động tập trung kinh tế có điều kiện: Thay vì cấm, lúc này pháp luật cạnh tranh đã cho phép tập trung kinh tế với điều kiện phải thực hiện một số biện pháp nhằm ngăn ngừa khả năng gây tác động đến cạnh tranh trên thị trường. Điều kiện này được quy định cụ thể tại Điều 42 Luật Cạnh tranh năm 2018 nhằm thể hiện sự tôn trọng quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp.
2.2. Quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế
Thứ nhất, về thẩm quyền kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế thuộc về Ủy ban cạnh tranh quốc hgia thuộc Bộ Công Thương, đây là thiết chế mới dựa trên sự tập trung kinh tế giữa hai cơ quan cạnh tranh trước đây là Hội đồng cạnh tranh quốc gia và Cơ quan quản lý cạnh tranh. Hiện nay Chính phủ chưa ban hành nghị định hướng dẫn chi tiết về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của thiết chế này nhưng theo kế hoạch, Ủy ban cạnh tranh Quốc gia sẽ xây dựng theo mô hình tổng cục và có 8 giúp việc cho Ủy ban cạnh tranh.
Thứ hai, về thủ tục và các bước thông báo tập trung kinh tế cũng được quy định rõ tại từ Điều 33 đến Điều 41 Luật Cạnh tranh năm 2018 và tại Nghị định số 35/2020/NĐ-CP.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 50.000 VNĐ (.docx)