THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 16 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0041.
- Pháp luật áp dụng: Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2024] Quy định về ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam và so sánh với Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bungari 2 ly hon co yeu to nuoc ngoai theo phap luat viet nam va so sanh voi hiep dinh tuong tro viet nam hungari 2](https://tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2024/02/ly-hon-co-yeu-to-nuoc-ngoai-theo-phap-luat-viet-nam-va-so-sanh-voi-hiep-dinh-tuong-tro-viet-nam-hungari-2.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI | 3 |
| 1.1. Khái niệm ly hôn, ly hôn có yếu tố nước ngoài | 3 |
| 1.1.1. Khái niệm ly hôn | 3 |
| 1.1.2. Khái niệm ly hôn có yếu tố nước ngoài | 3 |
| 1.2. Thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài. | 4 |
| 1.3. Pháp luật áp dụng ly hôn có yếu tố nước ngoài | 5 |
| 1.4. Thủ tục giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài | 6 |
| CHƯƠNG 2: SO SÁNH QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI VỚI HIỆP ĐỊNH TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP GIỮA CHXHCN VIỆT NAM VỚI BUNGARI | 7 |
| 2.1. Khái quát chung Hiệp định tương trợ tư pháp giữa CHXHCN Việt Nam với Bungari | 7 |
| 2.2. Các phương diện so sánh, đánh giá pháp luật | 7 |
| 2.2.1. Nguyên tắc xác định pháp luật áp dụng | 7 |
| 2.2.2. Thẩm quyền giải quyết vụ việc ly hôn. Giống nhau: | 9 |
| CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ, NHẬN XÉT CHUNG VÀ MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM | 10 |
| 3.1. Những điểm ưu việt của pháp luật Việt Nam trong quy định về ly hôn có yếu tố nước ngoài | 10 |
| 3.2. Những điểm hạn chế của pháp luật Việt Nam trong quy định về ly hôn có yếu tố nước ngoài | 10 |
| 3.3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam về chế định ly hôn có yếu tố nước ngoài | 11 |
| KẾT LUẬN | 12 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 13 |
LỜI MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài và tính cấp thiết:
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, với những đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước, nước ta không ngừng hợp tác và đạt được những thành tựu trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, xã hội, văn hóa…cùng với sự phát triển đó thì quan hệ hôn nhân giữa các cá nhân có quốc tịch khác nhau, hoặc cư trú tại các nước khác nhau (hôn nhân có yếu tố nước ngoài) cũng dần được hình thành. Đây được xem là một vấn đề khá nhạy cảm bởi nó liên quan đến pháp luật và chính sách đối ngoại giữa các quốc gia nên được dành rất nhiều sự quan tâm của các nước. Có thể nói, hôn nhân là một phần tất yếu của cuộc sống, hôn nhân hướng đến mục tiêu xây dựng gia đình hạnh phúc, tốt đẹp nhưng đâu phải cuộc hôn nhân nào cũng làm tròn sứ mệnh của mình là xây dựng hạnh phúc mà còn xuất phát từ những lý do, biến cố khiến hôn nhân tan vỡ, dẫn đến ly hôn. Ly hôn được xem là sự giải thoát, ràng buộc lẫn nhau về mặt pháp lý giữa các chủ thể và chế định này không ngừng được hoàn thiện, tiến bộ.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã nâng lên thành một nguyên tắc “ Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng” (Khoản 1 Điều 2) thể hiện sự bình đẳng không chỉ trong hôn nhân mà còn tiến bộ, bình đẳng trong quyền và lợi ích cũng như nghĩa vụ sau khi ly hôn.
Trong những năm gần đây với sự hội nhập, phát triển sôi động thì quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài nói chung và ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng đang ngày càng phổ biến và đa dạng, tính chất cũng như mức độ các vụ án ngày càng phức tạp hơn đòi hòi không chỉ đơn thuần là áp dụng các văn bản pháp luật quốc gia trong nước, mà chế định ly hôn có yếu tố nước ngoài còn chịu sự điều chỉnh của các Điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, các Hiệp định tương trợ tư pháp… Như đã đề cập thì ly hôn có yếu tố nước ngoài là một vấn đề pháp lí liên quan đến chính sách, đường lối đối ngoại giữa các quốc gia, do đó nếu giải quyết các vấn đề liên quan đến chế định này một cách đúng đắn, hiệu quả, “ thấu tình đạt lý” thì quan hệ giữa các quốc gia ngày càng được gắn bó, phát triển tốt đẹp, xã hội từ đó cũng dần được ổn định, vững mạnh, tiến tới văn minh, tiến bộ hơn.
Chính vì thế, xuất phát từ những nhận thức trên tôi xin chọn đề tài “Quy định về ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam và so sánh với Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bungari” để làm tiểu luận Luật học.
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
1.1. Khái niệm ly hôn, ly hôn có yếu tố nước ngoài
1.1.1. Khái niệm ly hôn
Chế định ly hôn tại Việt Nam được ghi nhận qua các văn bản pháp luật khác nhau, cụ thể: Theo Khoản 1 Điều 39 BLDS 2015 thì “Cá nhân có quyền kết hôn, ly hôn, quyền bình đẳng của vợ chồng, quyền xác định cha, mẹ, con, quyền được nhận làm con nuôi, quyền nuôi con nuôi và các quyền nhân thân khác trong quan hệ hôn nhân, quan hệ cha mẹ và con và quan hệ giữa các thành viên gia đình”, Khoản 14 Điều 3 Luật HNGĐ 2014 quy định “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án”.
Trên cơ sở những quy định đó có thể hiểu một cách khái quát như sau: “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ hôn nhân, Tòa án là cơ quan duy nhất có trách nhiệm ra phán quyết chấm dứt quan hệ hôn nhân của vợ chồng. Phán quyết ly hôn của Tòa án được thể hiện qua hai hình thức là bản án hoặc quyết định, nếu hai bên vợ chồng thuận tình ly hôn và giải quyết được tất cả các nội dung quan hệ vợ chồng khi ly hôn thì Tòa án công nhận ra phán quyết dưới hình thức là quyết định, nếu vợ chồng có tranh chấp, mâu thuẫn thì Tòa án ra phán quyết dưới hình thức bản án ly hôn”.
1.1.2. Khái niệm ly hôn có yếu tố nước ngoài
Hiện nay thì chưa có một văn bản pháp lí nào quy định rõ ràng, cụ thể khái niệm “Ly hôn có yếu tố nước ngoài”, dựa trên quy định tại Khoản 25 Điều 3 Luật HNGĐ 2014 thì khái niệm này có thể được hiểu như sau: “Ly hôn có yếu tố nước ngoài là việc chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng, mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; hoặc giữa các bên là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”.
Như vậy, để xác định một quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài thì có thể dựa vào ba yếu tố: Yếu tố về chủ thể, yếu tố làm chấm dứt quan hệ hôn nhân, yếu tố về vị trí của tài sản liên quan đến ly hôn.
1.2. Thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài.
Theo quy định tại Điều 28 và Điều 29 BLTTDS 2015 thì những tranh chấp hoặc yêu cầu về hôn nhân gia đình thì đều thuộc thẩm quyền của Tòa án.
Căn cứ theo Điểm d Khoản 1 Điều 469 BLTTDS 2015 quy định về thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam trong giải quyết các vụ việc dân sự có YTNN như sau: “Vụ việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam hoặc các đương sự là người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam”.
Ngoài ra thì trong các trường hợp sau thì Tòa án Việt Nam có thẩm quyền riêng biệt theo Điểm b Khoản 1 Điều 470 BLTTDS 2015:
– Vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với công dân nước ngoài nếu cả hai vợ chồng cùng cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam;
– Vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với người không quốc tịch nếu cả hai vợ chồng cùng cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam
Bên cạnh đó, thì Tòa án Việt Nam cũng có thẩm quyền riêng biệt đối với yêu cầu ly hôn không có yếu tố tranh chấp tại Điểm a Khoản 2 Điều 470 BLTTDS 2015.
Về thẩm quyền theo cấp Tòa án:
– Căn cứ theo Khoản 3 Điều 35 và Điều 37 thì thẩm quyền giải quyết ly hôn có YTNN thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp Tỉnh.
– Căn cứ theo Khoản 4 Điều 35 BLTTDS 2015 và Khoản 3 Điều 123 Luật HNGĐ 2014 thì thẩm quyền giải quyết ly hôn có YTNN thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp Huyện, cụ thể: “Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam hủy việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam theo quy định của Bộ luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam”.
Về thẩm quyền theo lãnh thổ:
– Thuận tình ly hôn thì Tòa án nơi cư trú của vợ hoặc chồng sẽ có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại Điểm h Khoản 2 Điều 39 BLTTDS 2015
– Đơn phương ly hôn thì Tòa án nơi bị đơn cư trú có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 50.000 VNĐ (.docx)