THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 18 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0043.
- Pháp luật áp dụng: Hiến pháp năm 2013, Luật Ngân hàng nhà nước năm 2010
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2024] Phân tích quy định pháp luật về chính sách tiền tệ quốc gia. Trong điều kiện lạm phát tăng cao trong nền kinh tế, ngân hàng nhà nước sẽ điều chỉnh các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia theo hướng như thế nào? 2 phan tich quy dinh phap luat ve chinh sach tien te quoc gia 2](https://tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2024/02/phan-tich-quy-dinh-phap-luat-ve-chinh-sach-tien-te-quoc-gia-2.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ | 3 |
| CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUỐC GIA | 3 |
| 1.1. Khái niệm chính sách tiền tệ | 3 |
| 1.2. Khái niệm chính sách tiền tệ quốc gia | 4 |
| 1.3. Quy định của pháp luật về chính sách tiền tệ quốc gia | 4 |
| 1.3.1. Thẩm quyền quyết định chính sách tiền tệ quốc gia | 4 |
| 1.3.2. Các công cụ thực hiện chinh sách tiền tệ quốc gia | 5 |
| CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG LẠM PHÁP TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM | 9 |
| CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ PHƯƠNG ÁN ĐIỀU CHỈNH CÁC CÔNG CỤ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUỐC GIA TRONG ĐIỀU KIỆN LÀM PHÁT HIỆN NAY | 11 |
| KẾT LUẬN | 14 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 15 |
LỜI MỞ ĐẦU
Nước ta phát triển theo thể chế kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách tiền tệ là một trong các yếu tố cơ bản bảo đảm chất lượng tăng trưởng và bền vững của nền kinh tế. Theo Luật Ngân hàng, mục đích của chính sách này chủ yếu là nhằm bình ổn giá trị của đồng tiền để hạn chế lạm phát, góp phần đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và nâng cao mức sống của người dân. Trên nền tảng mục đích chung đó, trong năm vừa qua Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có cơ chế thực hiện chính sách tiền tệ tương đối linh động, bao gồm nhiều biện pháp chính sách để điều hoà lượng cầu tiền tệ, chính sách tỉ giá, lãi suất và đưa ra giới hạn an toàn cho các ngân hàng thương mại, một số công cụ khác như quy định dự trữ ngoại hối, tái chiết khấu, thị trường mở.
Bước sang thế kỷ 21, Việt Nam sẽ ưu tiên phát triển kinh tế thị trường công bằng xã hội , cho nên việc chọn biện pháp phù hợp nhằm điều chỉnh để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia có hiệu quả nhất cũng là một bài toán khó, phức tạp. Đồng thời, Việt Nam cũng cần thiết phải thừa nhận rằng việc mở cửa để từng bước hội nhập đã đặt ra các điều kiện cho hệ thống ngân hàng phát triển, phù hợp với nền kinh tế đang chuyển qua nền kinh tế thị trường, bên cạnh quá trình hội nhập ngày một sâu và trong xu thế toàn cầu hoá ngày một mạnh mẽ, hơn nữa cùng với những tác động kinh tế nghiêm trọng của dịch bệnh đại dịch COVID-19 mà hiện nay chính sách tiền tệ quốc gia ở Việt Nam phải đối mặt với nhiều khó khăn và thử thách. Để tìm hiểu rõ hơn về hệ thống luật pháp liên quan đến chính sách tiền tệ quốc gia và đề xuất giải pháp thực hiện các công cụ điều hành chính sách tiền tệ nhà nước đối với tình hình lạm phát tăng trưởng cao vừa qua của nền kinh tế, bởi vậy em đã lựa chọn đề tài: “Phân tích quy định pháp luật về chính sách tiền tệ quốc gia. Trong điều kiện lạm phát tăng cao trong nền kinh tế, ngân hàng nhà nước sẽ điều chỉnh các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia theo hướng như thế nào?” làm đề tài tiểu luận kết thúc học phần môn Luật Ngân hàng của mình.
Mục tiêu nghiên cứu của em là nghiên cứu những quy định của Luật Ngân hàng hiện hành đề cập về chế định chính sách tiền tệ quốc gia. Từ đó với điều kiện lạm phát ngày càng gia tăng cao như hiện nay trong bối cảnh kinh tế Việt Nam , em sẽ kiến nghị một số giải pháp khả khi về việc xây dựng những công cụ thực thi chính sách tiền tệ quốc gia nhằm có cơ để quản lý và giảm thiểu lạm phát cho nền kinh tế của đất nước Việt Nam.
CHƯƠNG 1: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUỐC GIA
1.1. Khái niệm chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ theo nghĩa thông thường: Là chính sách điều tiết tất cả lượng tiền trong nền kinh tế để phân phối sử dụng có hiệu quả mọi nguồn tài nguyên, đảm bảo được mục tiêu phát triển, cân bằng vĩ mô, trên cơ sở đó duy trì giá trị đồng tiền, là ổn định tiền tệ.
Chính sách tiền tệ theo nghĩa trung bình (nghĩa hẹp): Là chính sách đảm bảo làm sao có khối lượng tiền lưu thông tăng lên trong một năm phù hợp với tốc độ phục hồi kinh tế và kiềm chế lạm phát nhằm duy trì giá trị của đồng tiền, để thực hiện được những mục tiêu kinh tế vĩ mô.
Như vậy, chúng ta nên hiểu khái niệm chính sách tiền tệ là tập hợp những biện pháp của nhà nước Việt Nam do Ngân hàng Nhà nước ban hành được thực thi bằng các công cụ của mình thực hiện để quản lý và điều hoà khối lượng tiền cung ứng với mục tiêu: duy trì giá trị của đồng tiền, giải quyết việc làm, kích thích tăng trưởng kinh tế – xã hội.
Quốc gia nào cũng vậy, với vai trò là thiết chế đầu não của cả ngành tài chính và ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước là cơ quan tham mưu, quản lý và thi hành chính sách tiền tệ. Dù với tên gọi này khác nhau (Ngân hàng Nhân dân, Ngân hàng Nhà nước hoặc Hệ thống dự trữ liên bang…) , song tất cả chúng cùng có chung một tính chất là cơ quan trong bộ máy quản lý Nhà nước, trực tiếp cung ứng tiền, thực hiện chức năng căn bản là điều tiết thị trường tiền tệ, duy trì trật tự, đảm bảo sự hoạt động an toàn và ổn định và hiệu quả của toàn bộ hệ thống tài chính để phục vụ cho mục tiêu kinh tế vĩ mô của từng quốc gia. Hoạch định và thi hành chính sách tiền tệ là nhiệm vụ trọng tâm, là linh hồn của Ngân hàng Nhà nước trong lĩnh vực này. Điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước trong nền kinh tế thị trường có tính chất điều tiết vĩ mô nhằm hướng các tổ chức tín dụng tham gia vào những mục tiêu của chính sách tiền tệ, mặt khác cũng bảo đảm tính độc lập đối với hoạt động nghiệp vụ của từng tổ chức tín dụng. Ngân hàng Nhà nước cũng không can thiệp và không áp đặt trực tiếp đối với những quyết đinh nghiệp vụ của mỗi tổ chức tín dụng mà chỉ dùng một số công cụ ảnh hưởng gián tiếp nhằm thay đổi môi trường và định hướng hoạt động kinh tế của từng tổ chức tín dụng.
Có thể nói, Chính sách tiền tệ là một phần trong hệ thống các chính sách kinh tế của nhà nước để làm công tác điều tiết vĩ mô đối với hoạt động kinh tế nhằm đạt được những mục đích kinh tế – xã hội cho từng thời kỳ thích hợp.
1.2. Khái niệm chính sách tiền tệ quốc gia
Khoản 1 Điều 3 Luật Ngân hàng nhà nước quy định định nghĩa chính sách tiền tệ quốc gia. Theo đó “chính sách tiền tệ quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra.”
Nếu như chính sách tiền tệ quốc gia chú trọng đến thành phần. Kết cấu các khoản chi tiêu công của quốc gia, còn chính sách tiền tệ thì chỉ chú trọng đến vấn đề năng lực thanh toán trong toàn nền kinh tế quốc gia, gồm việc đáp ứng khối lượng vốn cung ứng vào lưu thông, điều khiển hệ thống tiền tệ và tỷ giá hối đoái phải đảm bảo được nhu cầu tăng trưởng kinh tế, tạo cơ sở để kích thích phát triển của thị trường tiền tệ, thị trường ngoại hối theo đúng lộ trình đã xác định.
1.3. Quy định của pháp luật về chính sách tiền tệ quốc gia
1.3.1. Thẩm quyền quyết định chính sách tiền tệ quốc gia
Quốc hội quyết định chỉ tiêu lạm phát hằng năm được thể hiện thông qua việc quyết định chỉ số giá tiêu dùng và giám sát việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.
Chủ tịch nước thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do Hiến pháp và pháp luật quy định trong việc đàm phán, ký kết, gia nhập điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.
Chính phủ trình Quốc hội quyết định chỉ tiêu lạm phát hằng năm. Thủ tướng Chính phủ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định việc sử dụng các công cụ và biện pháp điều hành để thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia theo quy định của Chính phủ. [1]
1.3.2. Các công cụ thực hiện chinh sách tiền tệ quốc gia
Công cụ thực thi chính sách tiền tệ là việc điều chỉnh lưu thông tiền tệ của hệ thống quản lý tiền tệ chủ yếu là hướng vào một lãi suất mong muốn nhằm có đươc các mục đích ổn định và tăng trưởng kinh tế như kiểm soát nhập siêu, giữ nguyên tỷ giá, đạt tới tiêu dung tài trường kinh tế. Chính sách lưu hành tiền là sự điều chỉnh dưới dạng lãi suất mong muốn, dù trực tiếp hay gián tiếp qua một số hoạt động như mở giới hạn tỷ lệ sở hữu nhà nước hoặc giao dịch trên thị trường tự do.
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định việc sử dụng công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, bao gồm tái cấp vốn, lãi suất, tỷ giá hối đoái, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ, biện pháp khác theo quy định của Chính phủ.
[1] Điều 3 Luật Ngân hàng nhà nước 2010.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 50.000 VNĐ (.docx)