THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 20 trang (Không bao gồm bìa, Mục lục)
- Năm: 2025 / Mã số: A0225.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2025] Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và vận dụng liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái (Bài 13) 2 phep bien chung ve moi lien he pho bien va van dung lien he giua tang truong kinh te voi bao ve moi truong bai 13 2](https://tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2025/02/phep-bien-chung-ve-moi-lien-he-pho-bien-va-van-dung-lien-he-giua-tang-truong-kinh-te-voi-bao-ve-moi-truong-bai-13-2.png)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| PHẦN MỞ ĐẦU | 1 |
| 1. Lời nói đầu | 1 |
| 2. Lý do chọn đề tài | 1 |
| 3. Mục tiêu nghiên cứu | 3 |
| 4. Nhiệm vụ nghiên cứu | 3 |
| 5. Đóng góp của đề tài | 3 |
| PHẦN 1. PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN | 4 |
| 1.1. Khái niệm phép biện chứng | 4 |
| 1.2. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến | 4 |
| 1.2.1. Khái niệm | 4 |
| 1.2.2. Tính chất | 5 |
| 1.3. Ý nghĩa phương pháp luận | 8 |
| 1.3.1. Quan điểm toàn diện | 8 |
| 1.3.2. Quan điểm lịch sử - cụ thể | 10 |
| PHẦN 2. VẬN DỤNG PHÉP BIỆN CHỨNG | 12 |
| 2.1. Mối liên hệ giữa biện chứng tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái ở Việt Nam | 12 |
| 2.1.1. Khái quát về nền kinh tế Việt Nam trong những thập kỷ gần đây | 13 |
| 2.1.2. Ảnh hưởng của các hoạt động kinh tế tới môi trường sinh thái | 13 |
| 2.1.2.1. Trong công nghiệp | 14 |
| 2.1.2.2. Trong nông nghiệp | 15 |
| 2.1.2.3. Trong dịch vụ | 16 |
| 2.1.3. Hậu quả ô nhiễm môi trường | 16 |
| 2.2. Giải pháp giải quyết vấn đề | 17 |
| 2.2.1. Đối với chính phủ | 17 |
| 2.2.2. Đối với các doanh nghiệp, nhà sản xuất | 17 |
| 2.2.3. Đối với người dân | 18 |
| KẾT LUẬN | 19 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 20 |
TẢI VỀ: Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu! |
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lời nói đầu
Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến thầy Trần Huy Quang, người đã giúp em có thêm những hiểu biết về Triết học. Tuy chỉ trọng thời gian rất ngắn nhưng em đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ, hướng dẫn rất tận tình, tâm huyết của thầy. Những lời giảng của thầy đã giúp em nhận ra môn Triết không phải là một môn khô khan, khó nhằn mà nó áp dụng ngay trong thực tế, để cho em có một cái nhìn toàn diện, sâu sắc hơn về cuộc sống. Từ những kiến thức mà thầy truyền tải, em đã dần trả lời được những câu hỏi trong cuộc sống thông qua những Tư tưởng triết học Mác-Lênin. Thông qua bài tiểu luận này, em sẽ cố gắng vận dụng những kiến thức mà cô truyền đạt trong những buổi học vừa qua.
Trong quá trình hoàn thành bài tiểu luận mặc dù đã cố gắng hết khả năng nhưng do trình độ còn hạn chế nên vẫn không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, em rất mong nhận được những ý kiến nhận xét và đóng góp của thầy để bài tiểu luận được đầy đủ, hoàn thiện hơn. Đồng thời cũng giúp em củng cố thêm vốn hiểu biết của mình.
Em xin chân thành cảm ơn!
2. Lý do chọn đề tài
Triết học chính là hệ thống trí thức lý luận chung nhất của con người về thế giới và cả vị trí cũng như vai trò của con người trong thế giới ấy. Triết học được ra đời từ rất sớm (khoảng từ thế kỉ VIII đến thế kỉ VI trước Công nguyên) gần như cùng một thời điểm ở cả phương Đông và phương Tây.
Triết học tìm hiểu thế giới với tư cách là một chỉnh thể để tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể ấy cũng như hoạt động của toàn thể nhân loại trong cuộc sống rồi thể hiện ra một cách có hệ thống dưới dạng duy lý. Ngay từ khi ra đời, triết học được coi là hình thái cao nhất của tri thức, là khoa học của mọi khoa học. Tuy nhiên, cũng như những khoa học khác, triết học cần phải giải quyết rất nhiều vấn đề có liên quan đến nhau, trong đó có những vấn đề cực kỳ quan trọng là nền tảng và là điểm xuất phát để giải quyết những vấn đề còn lại – vấn đề cơ bản.
Về cơ bản, triết học có hai mặt cụ thể, mặt thứ nhất (Bản thể luận) để trả lời cho câu hỏi: Giữa ý thức và vật chất, cái nào có trước, cái nào có sau? Và cái nào quyết định cái nào? Và mặt thứ hai (nhận thức luận) trả lời cho câu hỏi: Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? Việc đi tìm câu trả lời cho mặt thứ nhất của vấn đề cơ bản đã chia các nhà triết học thành hai trường phái. Trong khi một số triết học gia theo chủ nghĩa duy tâm cho rằng: Ý thức có trước, vật chất có sao, ý thức quyết định đến vật chất. Thì các một số khác theo chủ nghĩa duy vật biện chứng lại có hướng lập luận ngược lại, cho rằng: Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định đến ý thức. Trong đó, phép lập luận duy vật được cho là”chìa khoá” của chủ nghĩa triết học Mác – Lênin. Và quan điểm toàn diện chính là một trong 3 nguyên tắc phương pháp luận cơ bản và rất quan trọng của phép biện chứng duy vật. Trong các hoạt động nhận thức và cả hoạt động thực tiễn, chúng ta cần phải tôn trọng nguyên tắc toàn diện này.
Thế giới đang ngày càng trên đà phát triển với biểu hiện là sự nhảy vọt, tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế. Sự tác động của nó diễn ra trên tất cả các mặt, các lĩnh vực của đời sống xã hội.Việc sống trong một nền kinh tế phát triển vượt bậc, không ngừng công nghệ hóa- hiện đại hóa vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với cuộc sống con người cũng như là hệ sinh thái của Trái Đất, nó cũng là điều kiện khách quan thúc đẩy mạnh mẽ việc tạo ra những phương pháp, cách tiếp cận mới để ứng biến linh hoạt đảm bảo sự phát triển toàn cầu. Đặc biệt, tại Việt Nam, với tư thế là một nước đang phát triển và ngày càng được thế giới đánh giá cao, vấn đề về môi trường sinh thái chính là một trong những thực tiễn đòi hỏi nhà nước phải có những bước đổi mới nhanh chóng và thích ứng để giữ vững vị thế của mình trên trường quốc tế.
Vì thế trong bài tiểu luận này em đã chọn đề tài: “Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái”.
[… Vui lòng tải về để xem đầy đủ nội dung tài liệu này]
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ: Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu! |