THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh
- Định dạng: WORD
- Số trang: 03 trang (Không bao gồm bìa, Mục lục)
- Năm: 2025 / Mã số: B0892.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2025] Thực trạng về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất tại Việt Nam - Một số bất cập và giải pháp hoàn thiện (03 trang) (MS-B0892) 1 thuc trang ve boi thuong khi nha nuoc thu hoi dat tai viet nam](https://tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2026/01/thuc-trang-ve-boi-thuong-khi-nha-nuoc-thu-hoi-dat-tai-viet-nam.png)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
TẢI VỀ: Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu! |
LỜI MỞ ĐẦU
Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại đất và quyền sử dụng đất đang có người sử dụng, trong những trường hợp nhất định theo quy định của pháp luật đất đai[1]. Theo đó, ngược lại với giao đất, cho thuê đất là biện pháp pháp lý làm chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai. Hình thức thể hiện biện pháp pháp lý này là một quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giao đất, cho thuê đất, nhằm thực thi nội dung của quản lý nhà nước về đất đai, xuất phát từ nhu cầu của Nhà nước và xã hội hoặc là biện pháp chế tài được áp dụng nhằm xử lý các hành vi vi phạm pháp luật đất đai của người sử dụng. Có 03 trường hợp Nhà nước thu hồi đất gồm có: Thu hồi do mục đích quốc phòng, an ninh[2], thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia công cộng[3] và thu hồi đất do vi phạm pháp luật đất đai. Tùy vào các trường hợp thu hồi đất khác nhau và tùy vào việc người sử dụng đất có hay không đủ các điều kiện nhất định mà Nhà nước có thể thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người có đất bị thu hồi. Trong đó, việc thực hiện bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam hiện nay còn tồn tại một số bất cập. Theo Điều 113 và 114 Luật Đất đai năm 2013, những “loại” giá đất làm cơ sở trực tiếp và gián tiếp để xác định giá đất tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất gồm: khung giá đất, bảng giá đất và giá đất cụ thể. Trong đó, giá đất cụ thể được sử dụng để làm căn cứ tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
1- Thực trạng và một số bất cập về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất tại Việt Nam
Mặc dù pháp luật đã quy định giá đất để tính bồi thường sát với giá chuyển nhượng quyền sử đụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường, nhưng thực trạng lại diễn ra tình trạng “hai giá đất”, một bên là mức giá để tính bồi thường khi thu hồi đất rất thấp (đặc biệt là thu hồi đất nông nghiệp) và bên kia là giá trị đất sau khi chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp tăng lên rất cao. Đây là một kẽ hở lớn tạo điều kiện cho nạn quan liêu, tham nhũng, đầu cơ và tạo động lực chuyển đổi các khu đất thuận lợi nhất cho sản xuất nông nghiệp sang các mục đích sử dụng khác. Tình trạng này đã gây ra hàng loạt những bức xức trong dư luận trong thời gian qua, đặc biệt là vụ việc Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp ở Khu đô thị mới Thủ Thiêm thu hồi đất với giá bồi thường là dựa trên giá đất nông nghiệp nhưng sau khi các dự án nhà ở được xây dựng thì giá đất lại gấp hàng trăm lần so với giá đền bù, bồi thường[4].
Việc thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng hiện nay chủ yếu được thực hiện theo một phương thức mang tính bắt buộc, sử dụng một giải pháp chuyển đổi thiệt hại sang tiền, trong khi có nhiều giải pháp khác không phải chi phí nhiều mà người dân vẫn thấy thỏa mãn về lợi ích lại chưa được đề cập trong pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng ở Việt Nam hiện nay. Mặt khác, do còn có những bất cập trong cơ chế tự thỏa thuận giữa chủ đầu tư với người bị thu hồi đất trong các dự án kinh doanh nên các nhà đầu tư muốn chuyển sang cơ chế Nhà nước thu hồi và bàn giao lại đất đã giải phóng mặt bằng cho chủ đầu tư. Bên cạnh đó, các dự án mà Nhà nước thu hồi thì giá bồi thường cũng được tính phù hợp theo giá thị trường, sau mỗi năm các địa phương lại cập nhật lại khung giá đất, nhưng mức giá này thường thấp hơn nhiều so với giá thị trường.
Các quy định về đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp cho người trực tiếp sản xuất nông nghiệp bị thu hồi đất nông nghiệp mà không có diện tích đất nông nghiệp mới để giao khó đi vào cuộc sống. Do thiếu cơ chế đồng bộ, đầy đủ và cụ thể để thực thi. Trên thực tế, cơ quan có trách nhiệm thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng mới chỉ chú ý đến việc bồi thường, hỗ trợ về đất và thiệt hại về tài sản trên đất mà dường như chưa chú trọng giải quyết vấn đề tạo công ăn, việc làm cho người nông dân bị mất đất sản xuất. Từ đó cho thấy pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất chưa giải quyết tốt mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa Nhà nước, chủ đầu tư và người bị thu hồi đất cũng như chưa xử lý được mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa người bị thu hồi đất ở phải di chuyển chỗ ở với người không phải di chuyển chỗ ở được hưởng lợi từ việc thu hồi đất.
2- Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất tại Việt Nam
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng và nêu ra một số khó khăn vướng mắc pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, trong thời gian tới pháp luật về bồi thường thì Nhà nước cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện. Tác giả xin đề xuất như sau:
Thứ nhất, sửa đổi quy định về thời điểm tính giá bồi thường cho người sử dụng đất khi bị Nhà nước thu hồi đất, nên quy định việc tính giá bồi thường theo thời điểm trả tiền bồi thường trên thực tế. Đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp của nông dân thì ngoài việc họ được bồi thường theo giá đất nông nghiệp tại thời điểm thu hồi cần quy định một tỷ lệ hỗ trợ nhằm để thưởng khuyến khích đối với những người bị thu hồi đất chấp hành nghiêm chỉnh, nhanh chóng việc bàn giao mặt bằng cho các nhà đầu tư. Khoản hỗ trợ này được trích từ khoản chênh lệch giữa giá đất bồi thường với giá đất sau khi đã chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp.
Thứ hai, bên cạnh các quy định hiện hành về giải quyết vấn đề công ăn, việc làm bảo đảm đời sống của người nông dân bị mất đất sản xuất; Nhà nước nên xây dựng, bổ sung quy định về việc thành lập quỹ trợ cấp thất nghiệp, quỹ giải quyết việc làm cho người nông dân bị mất đất nông nghiệp. Một phần kinh phí để thành lập các quỹ này do các doanh nghiệp được hưởng lợi từ việc thu hồi đất của người nông dân đóng góp./.
[1] Đại học Luật Hà Nội (2016), Giáo trình Luật Đất đai, Nxb. Công an nhân dân, tr.124.
[2] Điều 61 Luật Đất đai năm 2013.
[3] Điều 62 Luật Đất đai năm 2013.
[4] https://tuoitre.vn/nghiet-nga-gia-den-bu-khong-duoc-tai-dinh-cu-tai-thu-thiem-20180510081322042.htm, truy cập ngày 25/7/2022.
TẢI VỀ
TẢI VỀ: Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu! |