THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật – Đại học Huế
- Định dạng: WORD
- Số trang: 21 trang (cả bìa)
- Năm: 2021 / Mã số: B0201.
- Từ khóa: Chính sách giáo dục/ Chính sách hỗ trợ/ Dân tộc thiểu số/ Hỗ trợ giáo dục/ Tác động chính sách/ Tác động xã hội
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| CHƯƠNG 1: MÔ TẢ VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH | 1 |
| 1.1. Xác định vấn đề chính sách | 1 |
| 1.2. Thực trạng, và những bất cập | 1 |
| 1.3. Mục tiêu của chính sách | 5 |
| 1.4. Phương án, giải pháp cho chính sách | 5 |
| CHƯƠNG 2: KẾ HOẠCH ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CHÍNH SÁCH VỀ MẶT XÃ HỘI | 7 |
| 2.1. Đối tượng đánh giá tác động xã hội | 7 |
| 2.1.1. Đối với học sinh dân tộc thiểu số | 7 |
| 2.1.2. Đối với Nhà nước | 7 |
| 2.1.3. Đối với gia đình học sinh dân tộc thiểu số | 9 |
| 2.1.4. Đối với cán bộ quản lý giáo dục | 9 |
| 2.2. Chỉ tiêu đánh giá | 9 |
| KẾT LUẬN | 18 |
CHƯƠNG 1: MÔ TẢ VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH
1.1. Xác định vấn đề chính sách
Chính sách hỗ trợ giáo dục cho đồng bào dân tộc thiểu số miền núi, cụ thể là chính sách hỗ trợ về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học đối với học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi.
1.2. Thực trạng, và những bất cập
Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số với tỷ lệ 85,3% (82.085.729 triệu người), còn lại là 53 dân tộc thiểu số (DTTS) với tỷ lệ 14,7% (14.123.255 người). Tuy đồng bào dân tộc thiểu số có tỷ lệ thấp nhất trong mặt bằng dân cư cả nước nói chung nhưng được coi là phên giậu của Tổ quốc, đồng thời giữ vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong tiến trình phát triển và hội nhập của đất nước. Trong những năm qua, hệ thống các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đã hỗ trợ, đầu tư phát triển nhiều lĩnh vực nơi đây, đặc biệt là sự ra đời của Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế thêm một lần nữa khẳng định và nhấn mạnh tới việc cần thiết phải quan tâm đầu tư, phát triển hơn nữa chất lượng giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) và miền núi “Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng chính sách…”
Mạng lưới trường lớp từ mầm non đến trung học phổ thông ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi nước ta được củng cố và phát triển. Các thôn, bản vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới đã có lớp mầm non, tiểu học; 100% xã có trường tiểu học, trung học cơ sở, trung tâm cụm xã, các huyện đều có trường trung học phổ thông; nhiều trường mầm non, phổ thông đã đạt chuẩn quốc gia. Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú (PTDTNT), trường Phổ thông dân tộc bán trú (PTDTBT) và trường dự bị đại học (DBĐH) ngày càng phát huy vai trò tích cực, cơ bản đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn cán bộ người dân tộc thiểu số cho các địa phương vùng dân tộc thiểu số, vùng miền núi.
Từ các chương trình, dự án của nhà nước kết hợp với sự đầu tư của các địa phương, đến nay, các địa phương có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống đã xóa bỏ được hầu hết các phòng học 3 ca, phòng học tạm; tạo điều kiện cho hàng triệu học sinh được ngồi học trong các phòng học kiên cố và giải quyết chỗ ở cho hàng vạn giáo viên. Cơ sở vật chất, thiết bị trường học phục vụ hoạt động dạy và học của các cơ sở giáo dục vùng dân tộc thiểu số, miền núi được quan tâm đầu tư, góp phần ổn định và phát triển quy mô giáo dục, tạo điều kiện cho các cơ sở giáo dục phấn đấu đạt chuẩn quốc gia và hoàn thiện dần mạng lưới cơ sở giáo dục ở các địa phương, từng bước nâng cao quy mô mạng lưới và chất lượng giáo dục trong các trường chuyên biệt.
Hệ thống trường chuyên biệt vùng dân tộc thiểu số, miền núi được đầu tư, phát triển và không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục.
Hiện nay, toàn quốc có tổng số 316 trường phổ thông dân tộc nội trú ở 49 tỉnh/thành phố với tổng số 109.245 học sinh nội trú (tăng 22 trường PTDTNT, 28.422 học sinh nội trú so với năm học 2011-2012). Các trường phổ thông dân tộc nội trú đã tổ chức ứng dụng những kiến thức, kỹ năng về quản lý, giảng dạy, giáo dục học sinh được tiếp thu thông qua các lớp tập huấn nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên trường chuyên biệt của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Tỷ lệ học sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú xếp loại hạnh kiểm tốt, khá hằng năm đạt trên 95%. Tính trung bình, học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú có tỷ lệ học lực giỏi, khá là trên 60%, học lực trung bình trên: 30%, học lực yếu, kém khoảng 2,3%. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS của các trường phổ thông dân tộc nội trú hàng năm trên 97%; Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT của các trường phổ thông dân tộc nội trú đạt 90%. Có trên 10.000 học sinh tốt nghiệp THCS các trường phổ thông dân tộc nội trú; trong đó, khoảng 30% số học sinh được tiếp tục vào học cấp THPT ở các trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh, huyện và Trung ương, 60% vào các trường phổ thông công lập trên địa bàn, 10% vào học các trường trung cấp chuyên nghiệp, cơ sở dạy nghề và về địa phương tham gia công tác và lao động sản xuất. Trong số 6.000 học sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú tốt nghiệp THPT hàng năm, có trên 50% học sinh thi đỗ thẳng vào đại học, cao đẳng, 5% được đi học cử tuyển, 13% vào dự bị đại học, khoảng 30% vào trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề và về địa phương tham gia công tác, lao động sản xuất. Ngoài việc dạy học văn hóa, các nhà trường còn tổ chức các hoạt động giáo dục như: tổ chức nội trú, nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe học sinh, tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, giáo dục kỹ năng sống, hướng nghiệp, dạy nghề… nhằm phát triển toàn diện về phẩm chất, năng lực học sinh dân tộc thiểu số.
Phát triển hệ thống trường phổ thông dân tộc bán trú: Toàn quốc hiện có 1.097 trường phổ thông dân tộc bán trú ở 28 tỉnh/thành phố (trong đó có 15% trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia) với quy mô 185.671 học sinh bán trú (tăng 970 trường PTDTBT, 172.441 HSBT so với năm học 2011-2012) . Ngoài ra, còn có 2.273 trường phổ thông ở 29 tỉnh/thành phố với quy mô 161.241 học sinh bán trú. Hiện nay, các địa phương vùng dân tộc thiểu số, miền núi vẫn đang tiếp tục rà soát, quy hoạch để củng cố, phát triển hệ thống trường phổ thông dân tộc bán trú và trường phổ thông có học sinh bán trú. Các trường phổ thông dân tộc bán trú và trường phổ thông có học sinh bán trú thực hiện nội dung, chương trình giáo dục phổ thông theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, học 2 buổi/ngày, buổi tối thực hiện các hoạt động nội trú cùng với các nội dung giáo dục đặc thù theo chương trình kế hoạch riêng tùy vào điều kiện của mỗi nhà trường.
Chất lượng giáo dục của trường phổ thông dân tộc bán trú, trường phổ thông có học sinh bán trú có nhiều chuyển biến tích cực. Tỷ lệ học sinh bán trú cấp tiểu học hoàn thành cấp học đạt 98,9%, học sinh bán trú cấp THCS hoàn thành cấp học đạt 92%, tỷ lệ huy động học sinh dân tộc thiểu số trong độ tuổi ra lớp tăng, môi trường học tập ở trường phổ thông dân tộc bán trú đã giúp học sinh dân tộc thiểu số đi học chuyên cần tiếp cận nhanh hơn với tiếng Việt. Chất lượng giáo dục toàn diện được nâng lên rõ rệt, học sinh bỏ học giảm, góp phần quan trọng trong việc củng cố, duy trì kết quả phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục THCS; nâng cao dân trí và phát triển nguồn nhân lực ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, vùng biên giới và hải đảo.
Toàn quốc hiện có 4 trường dự bị đại học (Trường DBĐH dân tộc Trung ương Việt Trì, Trường DBĐH dân tộc Sầm Sơn, Trường DBĐH dân tộc Trung ương Nha Trang, Trường DBĐH thành phố Hồ Chí Minh), 1 trường phổ thông dân tộc nội trú trực thuộc Bộ GDĐT có đào tạo hệ dự bị đại học dân tộc (Trường Phổ thông Vùng cao Việt Bắc) và 3 khoa dự bị đại học dân tộc thuộc các trường đại học (Trường Đại học Tây Nguyên, Trường Đại học Cần Thơ, Trường Đại học Trà Vinh); với quy mô hơn 4.000 học sinh dự bị/năm.
Những năm qua, giáo dục đào tạo vùng dân tộc thiểu số, miền núi đã đạt được những thành tựu đáng kể. Mạng lưới trường lớp vùng dân tộc thiểu số, miền núi, trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú tại các địa phương đã được quan tâm đầu tư, đáp ứng tốt hơn nhu cầu dạy và học. Nhờ đó, sự nghiệp giáo dục và đào tạo vùng đồng bào dân tộc miền núi đã có những chuyển biến đáng kể: hệ thống trường, lớp học được quan tâm đầu tư xây dựng ngày càng khang trang, đảm bảo đủ điều kiện để từng bước nâng cao chất lượng dạy và học. Tỷ lệ học sinh đến trường tăng cao, học sinh lưu ban, bỏ học ngày càng giảm. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp Trung học cơ sở và Trung học phổ thông hằng năm tăng rõ rệt. Hệ thống giáo dục chuyên biệt (trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường dự bị đại học) ngày càng phát huy hiệu quả tích cực.
Trong những năm qua, chính sách về phát triển mạng lưới trường lớp, điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy học cho giáo dục vùng cao đã được tăng cường. Tuy nhiên, hệ thống chính sách ấy chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển quy mô và nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo của địa phương, đặc biệt ở một số trường chuyên biệt vùng dân tộc thiểu số, miền núi. Chính sách dồn dịch điểm trường gặp nhiều khó khăn do giao thông không được nâng cấp nhiều (còn tồn tại nhiều phòng học tạm, phòng học mượn và đi thuê, nhờ). Chương trình đầu tư lớn nhất cho giáo dục vùng dân tộc thiểu số là chương trình kiên cố hóa trường lớp học. Tuy nhiên, quá trình triển khai diễn ra rất chậm do việc giải ngân vốn còn nhiều ách tắc.
Hệ thống mạng lưới trường lớp vẫn chưa đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh. Càng lên vùng núi cao, hệ thống trường lớp càng phân tán nhỏ lẻ, tỷ lệ kiên cố hóa càng thấp, điểm trường, lớp ghép vẫn tồn tại nhiều ở vùng dân tộc thiểu số miền núi. Cơ sở vật chất vẫn còn nhiều khó khăn, phòng học xuống cấp vẫn còn nhiều, một số địa phương vẫn còn phòng học tạm, hệ thống phòng chức năng thiếu và yếu, công trình vệ sinh thiếu và không đảm bảo, thiếu công trình nước sạch. Hệ thống trường phổ thông bán trú còn nhiều thiếu thốn. Phần lớn hiện nay Các trường phổ thông bán trú thiếu chỗ ở, bếp nấu ăn, thiếu nước sạch, thiếu công trình vệ sinh. Trang thiết bị dạy học còn thiếu, các điều kiện tổ chức nội trú, bán trú cho học sinh chưa được đảm bảo. Tài liệu, sách hỗ trợ giáo dục đạo đức, rèn luyện kỹ năng sống và phát triển văn hóa đọc trong nhà trường còn thiếu.
1.3. Mục tiêu của chính sách
Đổi mới hoạt động, củng cố phát triển các trường Phổ thông dân tộc nội trú, trường Phổ thông dân tộc bán trú và xóa mù chữ cho người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Phấn đấu đến 2030, 100% số trường Phổ thông dân tộc nội trú, Phổ thông dân tộc bán trú, được đầu tư xây dựng kiên cố phục vụ việc giảng dạy, học tập và các công trình phụ trợ đáp ứng tốt việc nuôi dưỡng, chăm sóc, sinh hoạt của học sinh nội trú, bán trú.
1.4. Phương án, giải pháp cho chính sách
Giải pháp 1: Giữ nguyên hiện trạng Chính sách dồn dịch các điểm trường và sáp nhập các trường có quy mô nhỏ.
Giải pháp 2: Rà soát, quy hoạch hệ thống mạng lưới trường, lớp, cơ sở giáo dục phù hợp với điều kiện của vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), miền núi. Bố trí quỹ đất xây dựng các cơ sở giáo dục tại các huyện miền núi đảm bảo đáp ứng nhu cầu phát triển tại mỗi địa phương gắn với sắp xếp dân cư. Tập trung nguồn lực đầu tư, nâng cao hiệu quả nguồn ngân sách nhà nước, cơ sở vật chất tạo cơ sở vững chắc để chuẩn hóa trường học vùng cao, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Thực hiện việc sắp xếp hệ thống trường, lớp ở các bậc học, cấp học theo hướng chuẩn hóa.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
https://shop.tieuluannganhluat.com/san-pham/chinh-sach-ho-tro-giao-duc-cho-dong-bao-dan-toc-thieu-so-mien-nui/
[xyz-ihs snippet=”B0201″]
