THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 30 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0110.
- Pháp luật áp dụng: Bộ luật Dân sự năm 2015
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| 1. Tính cấp thiết của đề tài | 1 |
| 2. Tình hình nghiên cứu | 2 |
| 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu | 3 |
| 4. Phương pháp nghiên cứu | 3 |
| 5. Kết cấu tiểu luận | 3 |
| CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẠI DIỆN CHO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ | 4 |
| 1.1. Khái niệm người chưa thành niên | 4 |
| 1.2. Giao dịch dân sự được xác lập bởi người chưa thành niên. | 6 |
| 1.2.1. Giao dịch dân sự | 6 |
| 1.2.2. Cơ sở hình thành giao dịch dân sự của người chưa thành niên | 7 |
| 1.2.3. Các mức năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên | 8 |
| 1.3. Đại diện của cha mẹ cho người chưa thành niên | 10 |
| 1.3.1. Khái niệm đại diện của cha mẹ cho người thành niên | 10 |
| 1.3.2. Đặc điểm và ý nghĩa của chế định đại diện của cha mẹ cho con chưa thành niên | 11 |
| 1.3.3. Phạm vi đại diện và hậu quả pháp lý trong trường hợp cha mẹ không có thẩm quyền đại diện | 12 |
| Tiểu kết Chương 1 | 13 |
| CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐẠI DIỆN CỦA CHA MẸ CHO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ | 14 |
| 2.1. Pháp luật về đại diện của cha mẹ cho người thành niên | 14 |
| 2.1.1. Hình thức đại diện của cha mẹ cho người chưa thành niên | 14 |
| 2.1.2. Thực hiện quyền đại diện của cha mẹ đối với con chưa thành niên | 14 |
| 2.1.3. Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ với vai trò đại diện cho người chưa thành niên trong giao dịch dân sự | 15 |
| 2.2. Nguyên tắc thực hiện quyền đại diện | 15 |
| 2.3. Đại diện của cha mẹ cho con chưa thành niên trong một số trường hợp cụ thể | 16 |
| 2.3.1. Đại diện của cha mẹ con chưa thành niên trong hợp đồng mua bán tài sản | 16 |
| 2.3.2. Hợp đồng tặng cho tài sản | 16 |
| 2.3.3. Thừa kế | 16 |
| Tiểu kết chương 2 | 18 |
| CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN CƠ CHẾ ĐẠI DIỆN CỦA CHA MẸ BẢO ĐẢM QUYỀN LỢI CHO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG QUÁ TRÌNH THAM GIA GIAO DỊCH DÂN SỰ | 20 |
| 3.1. Quy định về thẩm quyền đại diện trong trường hợp cha mẹ không thống nhất ý kiến | 20 |
| 3.2. Quy định về thực hiện quyền đại diện của cha mẹ | 20 |
| 3.3. Định đoạt tài sản vì lợi ích của người chưa thành niên | 21 |
| 3.4. Giao dịch của người thành niên trong việc tặng cho tài sản. | 21 |
| 3.5. Từ chối nhận di sản được hưởng thừa kế của con | 22 |
| Tiểu kết Chương 3 | 22 |
| KẾT LUẬN | 23 |
| KẾT LUẬN | 24 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 25 |
LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Trong QHPLDS, đặc biệt trong lĩnh vực GDDS thì việc xác định tư cách chủ thể và năng lực chủ thể mang ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động dựa trên lý luận, pháp lý và thực tiễn. Chủ thể của QHPLDS là cá nhân, pháp nhân và nhà nước (chủ thể đặc biệt) có quyền và nghĩa vụ phát sinh từ QHPLDS mà họ tham gia. Trong đó cá nhân là chủ thể trọng tâm và phổ biến nhất, mang tính truyền thống của QHPLDS, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng trong quá trình nghiên cứu. Mỗi cá nhân khi sinh ra đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau, tức nói họ đều có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự nhưng tùy vào điều kiện, hoàn cảnh, tâm lý, độ tuổi thì việc xác lập hành vi, sử dụng quyền và thực hiện nghĩa vụ lại khác nhau. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, người từ đủ mười tám tuổi là người có NLHVDS đầy đủ trừ trường hợp: bị mất NLHVDS, hạn chế NLHVDS và người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Tuy nhiên, người chưa thành niên cũng là thành phần có NLHVDS không đầy đủ vì chưa đủ mười tám tuổi đồng thời nếu xét dưới góc độ tâm sinh lý thì chưa hoàn thiện về thể chất và trí tuệ. Do đó, chưa đủ nhận thức và năng lực để thực hiện quyền và nghĩa vụ theo pháp luật vì vậy cần có sự giáo dục, hướng dẫn, chăm sóc của gia đình và xã hội để bồi dưỡng và cho trẻ được phát triển toàn diện.
Dưới góc độ pháp luật dân sự, xuất phát từ sự non nớt về thể chất và trí tuệ cũng như từ nhận thức về vai trò quan trọng của thế hệ những chủ nhân tương lai của đất nước, pháp luật dân sự Việt Nam đã luôn thể hiện được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cùng toàn thể xã hội khi luôn tạo điều kiện để người chưa thành niên tham gia vào các QHPLDS, đặc biệt là về GDDS của người chưa thành niên. Để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người chưa thành niên khi tham qua vào các quan hệ dân sự, góp phần bảo đảm sự ổn định pháp lý của các GDDS nói chung và quyền lợi của những người chưa thành niên nói riêng thì pháp luật cần đặt ra nhiều biện pháp để bảo về quyền lợi của người chưa thành niên, đặc biệt là trong việc xác lập, thay đổi, chấm dứt GDDS.
Với những lý do đã trình bày ở trên thì đó chính là lý do vì sao tác giả chọn đề tài: “Pháp luật về đại diện của cha mẹ cho người chưa thành niên trong giao dịch dân sự” làm tiểu luận kết thúc học phần môn Luật Dân sự với mong muốn rằng những nghiên cứu, phân tích của người viết nhằm góp phần làm rõ những lý luận và thực tiễn về GDDS của người chưa thành niên đồng thời đánh giá và nêu quan điểm của tác giả đối với vấn đề. Trên cơ sở đó sẽ tìm ra giải pháp nhằm hoàn thiện hơn về hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật dân sự nói riêng trong giai đoạn hiện nay và thời gian sắp tới.
Tình hình nghiên cứu
Việc ghi nhận và bảo đảm thực hiện các quyền và lợi ích chính đáng của người chưa thành niên trong GDDS là đề tài được quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả và từ nhiều khía cạnh khác nhau như: Công ước LHQ về quyền trẻ em năm 1989; Chế định đại diện cho con chưa thành niên trong BLDS năm 2005, 2015; Luật HN&GĐ năm 2014 và Luật trẻ em năm 2016. Ngoài những lý luận chung thì còn có một số các công trình nghiên cứu của các tác giả về người chưa thành niên mà tiêu biểu là luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Thị Phương Nga với đề tài “Pháp luật bảo vệ quyền trẻ em trong giai đoạn hiện nay”, luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hồng Oanh với đề tài “Chế định cấp dưỡng trong pháp luật HN&GĐ năm 2000” hoặc luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Phương Lan với đề tài “Cơ sở lý luận và thực tiễn của chế định pháp lý về nuôi con nuôi ở Việt Nam”, Nguyễn Thị Phương Châm, bài viết “Những quy định pháp luật về hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên và cá kiến nghị hoàn thiện”; luận văn thạc sĩ luật học “Năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên” – Nguyễn Thị Hiền, năm 20007; luận văn thạc sĩ luật học “Quyền và nghĩa vụ của người chưa thành niên trong giao dịch dân sự” – Hoàng Thị Vân Anh, năm 2014. Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến những khía cạnh, những nội dung cụ thể liên quan đến người chưa thành niên ở những phạm vi khác nhau nên bài tiểu luận này tác giả sẽ tập trung nghiên cứu về vấn đề “Giao dịch dân sự của người chưa thành niên” góp phần nâng cao nhận thức và hiểu biết đồng thời hoàn thiện những chế định đối với người chưa thành niên. Trong quá trình nghiên cứu, bài tiểu luận đã tham khảo và kế thừa kết quả của các công trình, tài liệu khoa học trên và các tài liệu khác có liên quan.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật dân sự có nội dung chứa đựng những quy phạm nhằm điều chỉnh đối tượng là người chưa thành niên.
Phạm vi nghiên cứu: Bao gồm quy định của BLDS năm 2005, BLDS năm 2015, Luật HN&GĐ năm 2014, luật lao động cùng các văn bản luật, dưới luật khác thuộc ngành luật dân sự Việt Nam, quy định và điều chỉnh các vấn đề về GDDS của người chưa thành niên.
Phương pháp nghiên cứu
Bài tiểu luận này nghiên cứu dựa theo phương pháp cốt lõi – phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, phép biện chứng của chủ nghĩa Mác –Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật. Bên cạnh đó, vận dung phương pháp so sánh, đối chiếu, tổng hợp, chứng minh để phân tích và bình luận nội dung của một số chế định của pháp luật về vấn đề GDDS của người chưa thành niên.
Kết cấu tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của bài tiểu luận này gồm 3 chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về đại diện cho người chưa thành niên trong giao dịch dân sự.
Chương 2. Pháp luật Việt Nam về đại diện của cha mẹ cho người chưa thành niên trong giao dịch dân sự.
Chương 3. Đề xuất hoàn thiện cơ chế đại diện của cha mẹ bảo đảm quyền lợi cho người chưa thành niên trong quá trình tham gia giao dịch dân sự.
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẠI DIỆN CHO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ
Theo định nghĩa của khoản 1 Điều 21 BLDS năm 2015 thì người chưa thành niên là người chưa dủ mười tám tuổi. Do vậy, trong các trường hợp của khoản 2,3,4 Điều 21 BLDS năm 2015 được chia thành như sau: GDDS của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập thực hiện; Người tử đủ sáu tuổi đến mười năm tuổi khi xác lập, thực hiện GDDS phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ GDDS phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi; Người từ đủ mười lắm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện GDDS, trừ GDDS liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và GDDS khách theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý. Như vậy, người đại diện theo pháp luật của cá nhân được quy định tại Điều 138 gồm có bốn trường hợp được quy định tại khoản 1,2,3,4 trong đó khoản 1 đề cập đến vấn đề đại diện của cha, mẹ đối với con chưa thành niên từ đó cha, mẹ sẽ là người đại diện cho người chưa thành niên tham gia vào các GDDS, từ đó phát sinh, thay đổi, chấm dứt những vấn đề pháp lý về GDDS của người chưa thành niên mà tiêu biểu ở đây là Điều 125 BLDS năm 2015 quy định về GDDS vô hiệu trong đó có người chưa thành niên tuy nhiên trừ trường hợp được quy định tại khoản 2 ở điều này. Xuất phát từ những nguyên do nêu trên trong khuôn khổ của bài tiểu luận này thì tác giả chỉ xoay quanh nghiên cứu về vấn đề GDDS của người chưa thành niên được xác lập bởi cha mẹ – người đại diện theo pháp luật cho người chưa thành niên.
1.1. Khái niệm người chưa thành niên
Người chưa thành niên là những người đang trong quá trình phát triển về mặt tự nhiên và xã hội; chưa có sự trưởng thành đầy đủ về thể chất, trí tuệ và chưa đạt đến một độ tuổi nhất định theo quy định của pháp luật dân sự. Theo quy định của pháp luật hiện hành, người chưa thành niên là người chưa đủ mười chưa đủ mười tám tuổi[1]. Thông qua pháp luật dân sự thì chia ra thành hai độ tuổi đó là người chưa thành niên và người thành niên. Tư cách chủ thể của cá nhân được thể hiện qua hai yếu tố: Năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân chính là cơ sở pháp lý và khả năng để cá nhân có quyền và nghĩa vụ dân sự. Mỗi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau được tính từ khi cá nhân đó sinh ra cho đến khi chết đi. NLHVDS là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập quyền và nghĩa vụ, chính là khả năng để cá nhân tiến hành các hành vi nhằm thực hiện năng lực pháp luật của mình.
Giống như các đối tượng khác quan hệ pháp luật, người chưa thành niên có năng lực pháp luật bình đẳng như mọi cá nhân. Tuy nhiên, khi tham gia vào các GDDS, năng lực hành vi của người chưa thành niên lại không được đánh giá ngang bằng với các đối tượng khác bởi lẽ khác nhau về trình độ, độ tuổi và thể chất. Cụ thể, trong các văn bản quốc tế và các chương trình của LHQ sử dụng đồng thời cả hai khái niệm trẻ em và người chưa thành niên. Ví dụ, điều 1 Công ước LHQ về quyền trẻ em năm 1989 quy định rằng trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn và tại điều 2 trong Công ước số 182 (Công ước nghiêm cấm và hành động khẩn cấp xoá bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất) năm 1999 đã quy định thuật ngữ trẻ em sẽ áp dụng cho tất cả những người dưới mười tám tuổi. Bên cạnh đó Quy tắc tối thiểu phổ biến của LHQ về bảo vệ người chưa thành niên bị tước tự do năm 1990 cũng xác định người chưa thành niên là người dưới mười tám tuổi[2]. Tùy thuộc vào sự pháp triển tâm sinh lý và nhận thức của từng khu vực mà pháp luật của các quốc gia có sự quy định khác nhau về độ tuổi của người chưa thành niên. Ví dụ như Thái Lan là dưới 20 tuổi, Cộng hòa Liên bang Nga là dưới 18 tuổi, nước Anh là dưới 16 tuổi. Tại Việt Nam, độ tuổi chưa thành niên được quy định thống nhất trong các văn bản từ trước đến nay là dưới 18 tuổi. Tuy nhiên việc phân nhóm đối tượng dưới 18 tuổi chỉ mang ý nghĩa tương đối. Do đó, mỗi ngành luật lại quy định về người thành niên ở cách nhóm tuổi khác nhau phù hợp với đối tượng điều chỉnh riêng.
Theo Luật Thanh niên năm 2005 quy định: Thanh niên quy định trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi[3].
Theo Luật Trẻ em năm 2016 quy định thì trẻ em là người dưới 16 tuổi[4].
Luật Lao động năm 2012 quy định về người lao động như sau: Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động[5].
Kết luận về khái niệm: Người chưa thành niên là người dưới người dưới mười tám tuổi, chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý như người đã thành niên và được đặt trong mối quan hệ với những người thân trong gia đình đặc biệt là cha mẹ.
1.2. Giao dịch dân sự được xác lập bởi người chưa thành niên.
1.2.1. Giao dịch dân sự
Trong pháp luật dân sự Việt Nam, GDDS là một chế định đóng vai trò quan trọng. BLDS năm 2015 đã có những quy định cụ thể về GDDS nói chung và điều kiện có hiệu lực của một GDDS nói riêng. Tại Điều 116 BLDS năm 2015 quy định: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền,nghĩa vụ dân sự”.
Có rất nhiều căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự: hợp đồng, hành vi pháp lý đơn phương, thực hiện một công việc không có ủy quyền, quyết định của một cơ quan nhà nước có thẩm quyền,… trong đó GDDS là căn cứ phổ biến, thông dụng nhất. GDDS là một sự kiện pháp lý chứa đựng hành vi pháp lý. Hành vi pháp lý là một sự thể hiện ý chí nhằm làm phát sinh ra một hậu quả pháp lý, có nghĩa là làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt một quyền lợi hay nghĩa vụ. Sự thể hiện ý chí có thể là đơn phương (như lập di chúc, đơn phương chấm dứt một hợp đồng, đề nghị giao kết hợp đồng, xác nhận lại một hợp đồng vô hiệu,.), hoặc là sự thống nhất ý chí, có nghĩa là sự thỏa thuận, mà sự thỏa thuận có mục đích xác lập, thay đổi, chấm dứt một quyền lợi gọi là hợp đồng…
[1] Khoản 1 Điều 20 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2] Điểm a, Quy tắc 11 – Các quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên Hợp Quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước tự do, năm 1990.
[3] Điều 1 Luật Thanh niên năm 2005.
[4] Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016.
[5] Khoản 1 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2019.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
https://shop.tieuluannganhluat.com/san-pham/dai-dien-cua-cha-me-cho-nguoi-chua-thanh-nien-trong-giao-dich-dan-su/
[xyz-ihs snippet=”B0110″]
