THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 39 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0014.
- Pháp luật áp dụng: Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| 1. Tính cấp thiết của đề tài | 1 |
| 2. Tình hình nghiên cứu | 1 |
| CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG | 3 |
| 1.1. Khái niệm, đặc điểm chế độ tài sản của vợ chồng | 3 |
| 1.2. Các loại chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật | 6 |
| 1.2.1. Chế độ tài sản vợ chồng theo luật định | 6 |
| 1.2.2. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận | 6 |
| 1.3. Cơ sở lý luận và thực tiễn của những quy định về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận trong Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 | 8 |
| CHƯƠNG 2: NỘI DUNG CHẾ ĐỘ TÀI SẢN VỢ CHỒNG THEO THỎA THUẬN THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH NĂM 2014 | 10 |
| 2.1. Hình thức của thoả thuận | 10 |
| 2.2. Nội dung của thoả thuận | 10 |
| 2.3. Thoả thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu | 12 |
| 2.4. Hậu quả pháp lý của thoả thuận về chế độ tài sản vô hiệu | 14 |
| 2.5. Hệ quả pháp lý của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng khi chấm dứt quan hệ hôn nhân | 15 |
| CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ TÀI SẢN VỢ CHỒNG THEO THỎA THUẬN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT | 18 |
| 3.1. Thực tiễn thực hiện chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận | 18 |
| 3.2. Mặt tích cực | 22 |
| 3.3. Mặt hạn chế | 26 |
| 3.4. Nguyên nhân của hạn chế, bất cập | 27 |
| 2.5. Quan điểm của nhóm về bản án liên quan đến chế độ thỏa thuận tài sản | 28 |
| CHƯƠNG 4: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG THEO THỎA THUẬN | 31 |
| 4.1. Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận | 31 |
| 4.2. Kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận | 32 |
| KẾT LUẬN | 34 |
| TÀI LIỆU THAM KHẢO | 35 |
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận đã được thừa nhận và áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên Thế giới. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, quyền tự định đoạt đối với tài sản cá nhân luôn là quyền hiến định ở nước ta. Với quan hệ vợ chồng, tài sản không chỉ gắn liền với nhu cầu và lợi ích riêng của mỗi chủ thể tham gia vào quan hệ đó, mà nó còn có sự ảnh hưởng, tương tác lẫn nhau bởi tài sản trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng, nếu không có thỏa thuận khác. Nắm bắt tình hình đó, đến Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được thừa nhận song song với chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định để tăng tính bảo đảm quyền và lợi ích của các bên tham gia vào quan hệ hôn nhân.
Việc thực hiện và áp dụng chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận mặc dù tạo ra rất nhiều thuận lợi cho việc xét xử nhưng nó vẫn tồn đọng nhiều hạn chế. Do đó, việc nghiên cứu vấn đề “chia tài sản vợ chồng” có ý nghĩa lý luận thực tiễn sâu sắc nhằm đảm bảo cho quy định của pháp luật đi vào đời sống. Vì thế, nhóm 3 lựa chọn đề tài “Đánh giá thực trạng giải quyết tranh chấp về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận tại Tòa án”. Việc nghiên cứu đề tài này là cần thiết để làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn giải quyết vụ việc chia tài sản tại Tòa án ở nước ta. Từ đó chỉ ra những thành tựu đạt được nhờ việc cải thiện, sửa đổi pháp luật cũng như điểm lại những mặt tồn đọng cần cải thiện trong quá trình giải quyết tranh chấp này, và trên cơ sở đó, đưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về chế độ của vợ chồng theo thỏa thuận theo Luật Hôn nhân và Gia đình ở Việt Nam hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình và bài viết đăng trên các báo, tạp chí đề cập đến vấn đề chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận:
- Áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận trong việc giải quyết việc chấm dứt quan hệ tài sản giữa vợ và chồng, TS. Đoàn Thị Phương Diệp, Đại học kinh tế-luật, Đại học Quốc gia TP.HCM năm 2016.
- Chế độ tài sản theo thỏa thuận của vợ chồng liên hệ từ pháp luật nước ngoài đến pháp luật Việt Nam, Th.s Bùi Minh Hồng, Đại học Luật Hà Nội năm 2009.
- Jean Patarin và Imre Zajtay (1974) Le Régime matrimonial légal dans les législations contemporaines, Paris: Edition A. Pedone. 1974. 777 pp. Cuốn sách này tập hợp 40 bài viết của các tác giả đến từ 40 nước, đại diện cho các châu lục về chế độ tài sản của vợ chồng.
- Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận trong pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nguyễn Văn Cừ, Đại học Luật Hà Nội năm 2015, Tạp chí Luật học số 4/2015.
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN
CỦA VỢ CHỒNG
1.1. Khái niệm, đặc điểm chế độ tài sản của vợ chồng
Các Mác và Ăngghen đã luận chứng rõ về những mối quan hệ thiết yếu của con người như một điều tất yếu ngoài nhu cầu vật chất nuôi sống bản thân mình, đó chính là duy trì nòi giống, mối quan hệ hôn nhân, huyết thống: “…hàng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người còn tạo ra những người khác sinh sôi, nảy nở. Đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ con cái. Đó là gia đình…”.
Theo điều 36, Hiến pháp năm 2013 khẳng định “1. Nam nữ có quyền kết hôn, ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau; 2. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em”. Kết hôn là nền tảng để tạo dựng một gia đình bao gồm: vợ, chồng, con. Mỗi gia đình được xây dựng dựa trên nền tảng của hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng. Gia đình là tế bào của xã hội, trong đó, vợ, chồng, cha, mẹ, con vừa là thành viên trong gia đình, vừa là thành viên trong xã hội. Sự ổn định và phát triển lành mạnh của gia đình góp phần vào sự phát triển chung của toàn xã hội.
Tài sản đóng một vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển của xã hội loài người. Theo Từ điển Luật học “Tài sản là của cải, vật chất dùng vào mục đích sản xuất và tiêu dùng”. Theo điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì tài sản được quy định như sau: “1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; 2. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”.
Ở Việt Nam, Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về hôn nhân và gia đình nói chung và chế độ tài sản của vợ chồng nói riêng, đây là một trong những chế định cơ bản và quan trọng nhất của pháp luật về hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, cho đến nay, trong hệ thống pháp luật về hôn nhân và gia đình của nước ta vẫn chưa có khái niệm cụ thể về chế độ tài sản của vợ chồng, mà chỉ được quy định trong các văn bản pháp luật về hôn nhân và gia đình. Như vậy, có thể hiểu, chế độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ sở hữu tài sản của vợ chồng, bao gồm các quy định về căn cứ, nguồn gốc xác lập tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng; quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với các loại tài sản đó; các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng
Theo điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định hai cách thức xác lập chế độ tài sản vợ chồng là chế độ tài sản theo luật định và chế độ tài sản theo thỏa thuận. Trong đó, chế độ tài sản theo thỏa thuận là chế độ tài sản do vợ chồng cùng nhau bàn bạc, thảo luận trước khi kết hôn về các nội dung liên quan đến tài sản chung, tài sản riêng, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản cũng như việc phân chia tài sản của vợ chồng khi chấm dứt chế độ tài sản vợ chồng trên cơ sở tự do, tự nguyện và thỏa thuận này được gọi là thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng.
Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn (Điều 47 Luật Hôn nhân và gia đình 2014). Trong đó, khi áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì vợ chồng có thể thỏa thuận về xác định tài sản theo các nội dung thỏa thuận cơ bản được quy định tại điều 48 Luật hôn nhân gia đình 2014.
Có thể nói chế độ tài sản của vợ chồng là sự pha trộn của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 và Bộ Luật Dân sự. Vợ, chồng là chủ thể của quan hệ hôn nhân gia đình đồng thời cũng là chủ thể của quan hệ dân sự khi tham gia các giao dịch dân sự. Do đó, chế độ tài sản của vợ chồng có những đặc điểm nổi bật như sau:
Đầu tiên, chủ thể của quan hệ sở hữu trong chế độ tài sản của vợ chồng phải có quan hệ hôn nhân hợp pháp là vợ chồng của nhau có đủ năng lực chủ thể trong pháp luật dân sự và tuân thủ các điều kiện kết hôn trong pháp luật hôn nhân và gia đình.
Thứ hai, chế độ tài sản của vợ chồng gắn liền với quan hệ hôn nhân, tồn tại trong thời kỳ hôn nhân. Trong đó, quy định căn cứ xác lập, chấm dứt chế độ tài sản này phụ thuộc vào điều kiện phát sinh và chấm dứt của quan hệ hôn nhân. Tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là nguồn bảo đảm đối với cuộc sống vật chất và tinh thần của gia đình. Xuất phát từ quan hệ hôn nhân, chế độ tài sản của vợ chồng lệ thuộc vào sự tồn tại của hôn nhân và chấm dứt khi vợ hoặc chồng chết trước, hoặc có 1 bản án, quyết định của Tòa án cho vợ chồng ly hôn.
Thứ ba, các văn bản quy phạm pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng được xây dựng nhằm mục đích trước tiên và chủ yếu là bảo đảm quyền lợi của gia đình, là cơ sở để vợ chồng thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đối với tài sản. Đồng thời, các chủ thể có liên quan đến tài sản của vợ chồng phải nghiêm chỉnh tuân thủ và thực hiện các quy định pháp luật về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm liên quan đến tài sản của vợ chồng.
Thứ tư, các văn bản quy phạm pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng là cơ sở pháp lý để thực hiện quyền sở hữu và giao dịch giữa vợ, chồng và giữa họ với các chủ thể khác (người thứ ba), qua đó góp phần bảo đảm quyền lợi của gia đình trong đó có lợi ích của cá nhân vợ, chồng và người thứ ba có liên quan đến tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Dù vợ chồng lựa chọn loại chế độ tài sản nào cũng đều phải có nghĩa vụ đóng góp tiền bạc, tài sản nhằm đảm bảo đời sống chung của gia đình, nghĩa vụ chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, nuôi dưỡng và giáo dục con cái. Việc xác định này nhằm bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ của vợ, chồng liên quan đến tài sản của mình và quyền lợi của người thứ ba tham gia các giao dịch liên quan đến tài sản của vợ chồng.
Cuối cùng, các văn bản quy phạm pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng là căn cứ pháp lý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ và chồng với nhau và với người khác có liên quan đến tài sản của vợ chồng. Tòa án sẽ giải quyết phân chia tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng khi có yêu cầu và bảo đảm quyền lợi của vợ, chồng và người khác có liên quan đến tài sản của vợ chồng.
1.2. Các loại chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật
1.2.1. Chế độ tài sản vợ chồng theo luật định
Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định là chế độ tài sản mà trong đó pháp luật quy định cụ thể về căn cứ xác định tài sản của vợ chồng, các quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản đó và việc thực hiện các giao dịch giữa vợ, chồng và người thứ ba.
Xuất phát từ tính chất được pháp luật dự liệu từ trước chế, độ tài sản vợ chồng pháp định có những đặc điểm như sau:
Thứ nhất, về cơ sở pháp lý, chế độ tài sản pháp định được quy định cụ thể trong pháp luật HN&GĐ năm 2014, trong đó, quy định cụ thể căn cứ xác lập, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của vợ, chông đối với tài sản, nguyên tắc phân chia tài sản.
Thứ hai, về hình thức sở hữu đối với tài sản chung , ở Việt Nam, khác với chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận là vợ chồng có thể thỏa thuận với nhau về hình thức sở hữu đối với tài sản chung , trong chế độ tài sản của vợ chồng pháp định chỉ có duy nhất một hình thức là sở hữu chung hợp nhất. Điều này xuất phát từ mục đích của quan hệ hôn nhân là vợ, chồng yêu thương, chăm sóc lẫn nhau, chăm sóc, nuôi dạy con cái, vợ, chồng phải có nghĩa vụ đóng góp tiền bạc đảm bảo đời sống chung của gia đình.
Thứ ba, về quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng trong chế độ tài sản của vợ chồng pháp định, theo pháp luật HN&GĐ năm 2014, vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ bình đẳng với nhau trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung: quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập.
1.2.2. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận
“Chế độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh về tài sản của vợ chồng, bao gồm các quy định về căn cứ xác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng; các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản giữa vợ và chồng theo luật định”.
Hơn nữa, chế độ tài sản thỏa thuận giữa vợ chồng là sự thỏa thuận bằng văn bản do vợ chồng lập trước khi kết hôn để quy định chế độ tài sản của vợ trong trong suốt thời kỳ hôn nhân.Văn bản được xác lập sẽ là căn cứ pháp lý để điều chỉnh nghĩa vụ và quyền của vợ chồng về tài sản trong suốt thời kỳ hôn nhân của họ. Tuy nhiên, các điều khoản trong văn bản có thể sửa đổi khi ảnh hưởng không tốt đến lợi ích của gia đình, của bản thân vợ, chồng hay lợi ích của người thứ ba có quan hệ giao dịch với vợ chồng khi vợ chồng đã chọn lầm một chế độ tài sản hoàn toàn không phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh gia đình, điều kiện nghề nghiệp… Các thỏa thuận trong văn bản có thể được thay đổi trong thời kỳ hôn nhân với những điều kiện pháp lý chặt chẽ được quy định cụ thể trong luật.
Chế độ tài sản theo thỏa thuận của vợ chồng thực chất là chế độ sở hữu của vợ chồng. Vợ, chồng với tư cách là công dân, vừa là chủ thể của quan hệ hôn nhân và gia đình, vừa là chủ thể của quan hệ dân sự khi thực hiện quyền sở hữu của mình tham gia các giao dịch dân sự.
Thứ nhất, xét về chủ thể của quan hệ sở hữu trong chế độ tài sản này thì các bên phải có quan hệ hôn nhân hợp pháp với tư cách là vợ chồng của nhau. Do vậy, để trở thành chủ thể của quan hệ sở hữu này các chủ thể ngoài việc có đầy đủ năng lực chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự còn đòi hỏi họ phải tuân thủ các điều kiện kết hôn được quy định trong pháp luật hôn nhân và gia đình. Đối với sự thỏa thuận tài sản này, hai bên nam – nữ phải lập văn bản thỏa thuận trước khi kết hôn và chỉ khi họ kết hôn với nhau thì văn bản này mới chính thức công nhận quyền sở hữu tài sản của vợ chồng đã định trước đó.
Thứ hai, xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của gia đình đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội, Nhà nước bằng pháp luật quy định chế độ tài sản theo thỏa thuận của vợ chồng đều xuất phát từ mục đích trước tiên và chủ yếu nhằm bảo đảm quyền lợi của gia đình, trong đó có lợi ích cá nhân của vợ và chồng. Những quy định của pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng xác lập trước đó là cơ sở tạo điều kiện để vợ chồng chủ động thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đối với tài sản của vợ chồng.
Thứ ba, căn cứ xác lập, chấm dứt chế độ tài sản này phụ thuộc vào sự phát sinh, chấm dứt của quan hệ hôn nhân hay nói cách khác, chế độ tài sản của vợ chồng thường chỉ tồn tại trong thời kỳ hôn nhân.
1.3. Cơ sở lý luận và thực tiễn của những quy định về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận trong Luật Hôn nhân gia đình năm 2014
Ở Việt Nam, quyền tự định đoạt tài sản của mỗi cá nhân là quyền hiến định. Song, trong quan hệ hôn nhân, việc định đoạt tài sản lại chịu tác động của nhiều yếu tố khác do luật định. Thực tế việc áp dụng chế độ pháp luật này vào quan hệ vợ chồng đã gây ra rất nhiều bất cập và hạn chế bởi tính cứng nhắc, kém ứng dụng của các quy định này. Thêm vào đó, hầu hết các quốc gia trên Thế giới đã thừa nhận chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận trong hệ thống pháp luật. Nắm bắt được tình hình đó, đến Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, pháp luật Việt Nam đã xác lập hai chế độ tài sản trong quan hệ hôn nhân song song tồn tại, đó là: chế độ tài sản vợ chồng theo luật định, chế độ tài sản theo thỏa thuận. Đây là hai quy định có sự bổ trợ, kết hợp sâu sắc nhằm tạo ra tính ưu việt, mềm dẻo hơn trong quá trình giải quyết tranh chấp về tài sản của vợ chồng tại Tòa án.
Đến năm 2014, Việt Nam mới có sự thừa nhận chế độ tài sản theo thỏa thuận – điểm sáng đánh dấu sự tiến bộ của trong tư tưởng của Nhà nước và pháp luật. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận trong Luật HN&GĐ năm 2014 phù hợp với nguyên tắc được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 về quyền tự định đoạt của cá nhân về tài sản của mình trong việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người trên cơ sở quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về tiếp tục cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền con người, quyền tự do dân chủ của công dân. Khi xã hội ngày càng văn minh, con người càng có nhu cầu cao hơn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của chính mình cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động riêng của mỗi bên. Đặc biệt là trong điều kiện kinh tế đang phát triển, tài sản mà cá nhân nắm giữ ngày càng tăng cùng với sự phát triển của quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu cổ phần, vồn góp đã có sự tác động lớn đến nhu cầu có nhiều tài sản riêng, thể hiện quyền sở hữu tài sản riêng ở vợ, chồng. Theo thực tiễn Báo cáo tổng kết thi hành Luật HN&GĐ năm 2000 ở Việt Nam, chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được đặt ra để giải quyết vấn đề vợ, chồng không có nhu cầu ly hôn nhưng mong muốn được phân định tài sản của vợ, chồng một cách rạch ròi để trong quá trình chung sống với nhau sẽ hạn chế mâu thuẫn khi quản lý, sử dụng và định đoạt tài sản chung, tài sản riêng vợ, chồng. Đồng thời, tạo điều kiện cho vợ, chồng tự do, chủ động trong việc sử dụng tài sản riêng vào hoạt động tiêu dùng, kinh doanh riêng của mỗi bên…
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
[xyz-ihs snippet=”B0014″]
