THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 26 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0112.
- Pháp luật áp dụng: Bộ luật Dân sự năm 2015
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| 1. Lý do chọn đề tài | 1 |
| 2. Tình hình nghiên cứu | 1 |
| 3. Phạm vi nghiên cứu | 2 |
| 4. Kết cấu của đề tài | 2 |
| CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỜ CÚNG VÀ DI SẢN DÙNG VÀO VIỆC THỜ CÚNG | 3 |
| 1.1. Khái niệm thừa kế | 3 |
| 1.2. Khái niệm Di sản thừa kế | 3 |
| 1.3. Di sản dùng vào việc thờ cúng | 5 |
| 1.3.1. Nguồn gốc và truyền thống thờ cúng | 5 |
| 1.3.2. Di sản dùng vào việc thờ cúng | 6 |
| 1.4. Di sản dùng vào việc thờ cúng qua các thời kỳ. | 6 |
| 1.4.1. Thời kỳ nhà nước phong kiến và hai bộ luật nổi tiếng là Quốc triều Hình luật (Luật Hồng Đức) và Bộ luật Gia Long (Hoàng Việt Luật Lệ) | 6 |
| 1.4.2. Di sản dùng vào việc thờ cúng theo Bộ Dân luật Bắc Kỳ và Bộ Dân luật Trung Kỳ | 8 |
| 1.4.3. Di sản dùng vào việc thờ cúng trước khi có Pháp lệnh thừa kế và theo Pháp lệnh thừa kế | 9 |
| 1.5. Di sản dùng vào việc thờ cúng theo pháp luật một số nước | 10 |
| KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 | 11 |
| CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ DI SẢN DUNG VÀO VIỆC THỜ CÚNG | 12 |
| 2.1. Căn cứ xác lập di sản dùng vào việc thờ cúng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 | 12 |
| 2.2. Người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng | 12 |
| 2.2.1. Người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng được chỉ định trong di chúc | 12 |
| 2.2.2. Người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng không được chỉ định trong di chúc mà do những người đồng thừa kế cử ra | 13 |
| 2.3. Quyền và nghĩa vụ của người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng | 13 |
| 2.4. Căn cứ chấm dứt di sản dùng vào việc thờ cúng | 14 |
| KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 | 16 |
| CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ DI SẢN DÙNG VÀO VIỆC THỜ CÚNG VÀ PHƯƠNG PHÁP HOÀN THIỆN | 17 |
| 3.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật về di sản dùng vào việc thờ cúng | 17 |
| 3.2. Phương hướng hoàn thiện | 18 |
| KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 | 19 |
| KẾT LUẬN | 20 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 21 |
LỜI MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên được hình thành từ xa xưa và tồn tại ở nhiều dân tộc trên thế giới. Ở Việt Nam, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là một loại hình tín ngưỡng dân gian, xuất phát từ quan niệm “vạn vật hữu linh” với đời sống tâm linh của dân tộc Á Đông. Việc thờ cúng tổ tiên ông bà luôn là trách nhiệm thiêng liêng của con cháu từ đời này sang đời khác, thờ cúng tổ tiên là hình thức tín ngưỡng mà thông qua nghi lễ thờ cúng nhằm xác lập “mối liên hệ” giữa người sống với người chết, giữa người ở thế giới hiện tại và thế giới tâm linh. Nhân dân ta nhất là vùng nông thôn, việc thờ cúng không chỉ là tục lệ tổ tiên để lại mà còn là một hình thức của đời sống tâm linh không thể thiếu. Từ thời kỳ phong kiến, vấn đề liên quan đến di sản dùng vào việc thờ cúng đã được ghi nhận trong Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long dưới những quy định về hương hỏa. Mặc dù ở các thời kỳ, quy định cụ thể về di sản dùng vào việc thờ cúng có sự thay đổi, nhưng nhìn chung, việc kế thừa chế định về di sản dùng vào việc thờ cúng được đánh giá là nét đặc sắc trong cổ luật và được tiếp tục duy trì trong luật cận đại và pháp luật hiện hành. Ngày nay, xã hội phát triển, đời sống con người ngày càng hiện đại, những quan niệm và cách thức về vấn đề di sản thờ cúng ít nhiều có những phát sinh theo hướng tiêu cực. Do đó, vấn đề hoàn thiện pháp luật hiện hành về di sản dùng vào việc thờ cúng cần được quan tâm đúng mức, tìm hiểu pháp luật từng thời kỳ, từ cổ luật đến pháp luật hiện tại để nhìn nhận, tiếp thu những giá trị lâu bền áp dụng vào luật pháp hiện nay. Nhận thức được tầm quan trọng của pháp luật về di sản dùng vào việc thờ cúng, em đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Di sản dùng vào việc thờ cúng theo pháp luật Việt Nam” với mong muốn sẽ góp phần hoàn thiện pháp luật về di sản dùng vào việc thờ cúng trong Bộ luật dân sự của nước ta.
Tình hình nghiên cứu
Chế định thừa kế là vấn đề quan trọng nên “Di sản dùng vào việc thờ cúng theo pháp luật Việt Nam” đã được nhiều công trình nghiên cứu về pháp luật thừa kế nhắc đến, cụ thể “Pháp luật thừa kế ở Việt Nam từ thế kỷ XV đến nay” do TS. Phạm Kim Anh làm chủ nhiệm đã khái lược các quy định về di sản dùng vào việc thờ cúng qua các thời kỳ. Tiếp cận dưới góc độ thực tiễn, “Luật thừa kế Việt Nam – Bản án và bình luận bản án” của PGS.TS Đỗ Văn Đại đưa ra những cách thức giải quyết tranh chấp liên quan đến căn cứ xác lập, quản lý và chấm dứt di sản dùng vào việc thờ cúng trong các quyết định của Tòa án nhằm định hướng hoàn thiện pháp luật về di sản dùng vào việc thờ cúng phù hợp với thực tế. Thông qua các bài nghiên cứu được đăng tải trên các tạp trí pháp luật như: “Những vướng mắc khi giải quyết các vụ tranh chấp di sản dùng vào việc thờ cúng” của Tưởng Bằng Lượng (Tạp chí Tòa án nhân dân số 4/2002), hay “Thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về chế định thừa kế” của Nguyễn Hải An (Tạp chí Tòa án nhân dân số 17/2012)… Tất các công trình nghiên cứu trên có phạm vi rộng, mang tính bao quát cả chế định pháp luật thừa kế, riêng với đề tài “Di sản dùng vào việc thờ cúng theo pháp luật Việt Nam” vẫn còn hạn chế, nên cần thiết có những công trình phân tích chuyên sâu, toàn diện về đề tài này.
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài trên là về nguồn gốc, văn hóa, truyền thống của việc thờ cúng; di sản thờ cúng được quy định như thế nào trong pháp luật từ luật cổ đến pháp luật hiện hành và pháp luật một số nước để thấy rõ hơn về vấn đề này.
Kết cấu của đề tài
Đề tài được chia thành ba phần: Phần mở đầu, nội dung và kết luận. Trong phần nội dung gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về thờ cúng và di sản dùng vào việc thờ cúng.
Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về di sản dùng vào việc thờ cúng.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về di sản dùng vào việc thờ cúng và phương pháp hoàn thiện.
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỜ CÚNG VÀ DI SẢN DÙNG VÀO VIỆC THỜ CÚNG
1.1. Khái niệm thừa kế
Theo quy định pháp luật về thừa kế, việc thừa kế có thể được giải quyết bằng thừa kế theo pháp luật hoặc thừa kế theo di chúc. Trong đó, thừa kế theo di chúc là hình thức thừa kế mà việc phân chia tài sản thừa kế được thực hiện theo quyết định của người chết được thể hiện trong di chúc.
“Trong luật thực định Việt Nam, “di chúc” là một loại giao dịch dân sự dưới dạng hành vi pháp lý đơn phương, thể hiện quyền tự định của chủ sở hữu tài sản sau khi chết, để phân định tài sản đó cho ai, mỗi người được hưởng bao nhiêu…[1]
Theo Điều 624 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.” Như vậy, “Di chúc là sự thể hiện ý chí đơn phương của cá nhân lúc còn sống về việc định đoạt tài sản của mình sau khi chết một cách tự nguyện, theo một hình thức, thể thức luật định, có thể bị sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ bất cứ lúc nào bởi người lập di chúc khi người đó còn sống, và di chúc chỉ có hiệu lực sau khi người lập di chúc chết”.[2]
1.2. Khái niệm Di sản thừa kế
Di sản thừa kế là một khái niệm mở, và có thể hiểu là những giá trị vật thể hoặc phi vật thể được để lại từ xa xưa và tồn tại có giá trị cho đến ngày nay cho những người còn sống. Theo Điều 612 Bộ luật dân sự 2015 quy định về di sản: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.”
Di sản là tài sản riêng của người chết: Tài sản riêng của người chết là tài sản mà do người đó có được, tạo lập ra bằng thu nhập có căn cứ xác lập quyền sở hữu hợp pháp ( như tiền lương, tiền thưởng, tiền làm thuê, tiền trúng thưởng, xổ số,…) tài sản được tặng cho, được thừa kế, tư liệu sinh hoạt ( như quần áo, giường tủ, xe máy, ô tô, vô tuyến,..) Tài liệu, dụng cụ máy móc của người làm công tác nghiên cứu. Cây cối mà người được giao sử dụng đất trồng và hưởng lợi trên đất đó, hoa lợi, lợi tức và các tài sản hợp pháp khác giá trị theo pháp luật dân sự Việt Nam quy định. Như vậy, tất cả tài sản riêng của người chết không phân biệt tài sản do người đó tạo ra hay được tặng cho, không phân biệt mới tạo lập ra hay của cải để dành nếu thuộc sở hữu hợp pháp của người đó theo pháp luật dân sự Việt Nam thì đều trở thành di sản thừa kế.
Di sản là phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác: Bên cạnh tài sản riêng thì phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác cũng được xác định là di sản thừa kế. “Ngoài tài sản riêng, cá nhân còn có tài sản chung của vợ chồng. Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng”. Vợ, chồng có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung. Ngoài ra cá nhân còn có thể có tài sản chung với các chủ thể khác trong quá trình sản xuất kinh doanh”[3]. Như vậy, vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi người, có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.
Trong thực tế, có nhiều trường hợp do nhiều người cùng góp vốn để sản xuất kinh doanh nên có khối tài sản thuộc quyền sở hữu chung. Nếu một trong đồng chủ sở hữu chết thì di sản thừa kế của người chết là phần tài sản thuộc sở hữu của người đó đã đóng góp trong khối tài sản chung. Hoặc có những trường hợp tài sản là tài sản chung của nhiều chủ sở hữu do được tặng cho chung, thừa kế chung… Trong trường hợp đó, khi một đồng chủ sở hữu chết thì di sản thừa kế của người chết là phần tài sản thuộc sở hữu của người đó có trong khối tài sản chung…
[1] Trường Đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh, Giáo trình pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế (tái bản có sửa đổi, bổ sung), Nxb Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, tr. 434.
[2] Trường Đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh, Giáo trình pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế (tái bản có sửa đổi, bổ sung), Nxb Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, tr. 434.
[3] Trường Đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh, Giáo trình pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế (tái bản có sửa đổi, bổ sung), Nxb Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, tr. 413.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
https://shop.tieuluannganhluat.com/san-pham/di-san-dung-vao-viec-tho-cung-theo-phap-luat-viet-nam/
[xyz-ihs snippet=”B0112″]
