THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 24 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0083.
- Văn bản áp dụng: Luật Thương mại năm 2005, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Bộ luật Dân sự năm 2015.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| PHẦN MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG THƯƠNG LƯỢNG | 2 |
| 1.1. Khái niệm giải quyết tranh chấp thương mại bằng Thương lượng | 2 |
| 1.2. Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại bằng Thương lượng | 2 |
| 1.3. Đặc điểm của phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng Thương lượng | 3 |
| 1.4. Ưu điểm và nhược điểm của giải quyết tranh chấp thương mại bằng Thương lượng | 4 |
| 1.5. Các hình thức thương lượng | 5 |
| 1.6. Chủ thể giải quyết tranh chấp thương mại bằng Thương lượng | 6 |
| 1.7. Nội dung của thương lượng trong giải quyết tranh chấp thương mại | 7 |
| 1.8. Hiệu lực thi hành của kết quả giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng | 8 |
| CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG THƯƠNG LƯỢNG VÀ KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG THƯƠNG LƯỢNG | 10 |
| 2.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật về thương lượng trong giải quyết tranh chấp thương mại | 10 |
| 2.2. Những hạn chế, vướng mắc | 10 |
| 2.3. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng | 11 |
| 2.4. Kỹ năng giải quyết tranh chấp thương mại bằng Thương lượng | 11 |
| 2.4.1. Kỹ năng lắng nghe thấu hiểu | 12 |
| 2.4.2. Tập trung vào lợi ích, không tranh cãi về lập trường | 12 |
| 2.4.3. Tạo ra các phương án để đôi bên cùng có lợi | 13 |
| 2.4.4. Kỹ năng xác định các công việc cần chuẩn bị cho một cuộc thương lượng | 13 |
| 2.4.5. Lập biên bản trong quá trình thương lượng và ghi nhận kết quả thương lượng | 16 |
| KẾT LUẬN | 19 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 20 |
LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam đã và đang hội nhập toàn diện trên trường quốc tế, hợp tác và giao lưu thương mại ngày càng phát triển. Nhưng trong bối cảnh đó thì các quan hệ thương mại ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp. Các quan hệ này không chỉ được thiết lập giữa các chủ thể kinh doanh trong nước mà còn mở rộng tới các tổ chức, cá nhân nước ngoài. Chính vì vậy tranh chấp thương mại là điều không thể tránh khỏi và cần được quan tâm giải quyết kịp thời; hay nói cách khác, để các quan hệ kinh doanh thương mại ngày càng phát triển thì cần có một phương thức giải quyết tranh chấp có hiệu quả.
Pháp luật Việt Nam công nhận các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bao gồm: thương lượng, hòa giải, trọng tài và tòa án. Theo đó khi xảy ra tranh chấp các bên có thể thương lượng với nhau để giải quyết, trường hợp không thương lượng được thì có thể thực hiện với sự trợ giúp của bên thứ ba thông qua hòa giải, trọng tài hoặc tòa án. Phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng được áp dụng rộng rãi, đặc biệt được ưa chuộng tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển do những ưu điểm vượt trội của phương thức này so với phương thức tố tụng.
Để quá trình giải quyết tranh chấp thương mại thông qua thương lượng đạt hiệu quả cao nhất, thì các bên chủ thể cần phải có các kiến thức, kỹ năng chung về đàm phán, thương lượng.
Với lý do như trên, tôi xin chọn đề tài “Pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng và kỹ năng giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng” để hoàn thành bài tiểu luận kết thúc học phần Kỹ năng giải quyết tranh chấp.
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG THƯƠNG LƯỢNG
1.1. Khái niệm giải quyết tranh chấp thương mại bằng Thương lượng
Giải quyết tranh chấp bằng thương lượng là hình thức giải quyết tranh chấp mà các bên cùng nhau bàn bạc và đi đến thỏa thuận, một cách thức giải quyết tranh chấp mà không cần đến sự tác động hay giúp đỡ của bên thứ ba. Nếu việc thương lượng thành công sẽ cho phép hai bên đạt đến một sự thỏa thuận. Thỏa thuận này được thừa nhận như một hợp đồng, sự thống nhất ý chí giữa các bên, là “luật” giữa các bên và các bên phải có nghĩa vụ thực hiện.
Trong thực tiễn, hầu hết các trường hợp có tranh chấp phát sinh thì các bên thường tự nguyện và nhanh chóng liên hệ, gặp gỡ nhau để thương lượng, tìm cách tháo gỡ bất đồng, với mục đích chung là giữ mối quan hệ kinh doanh tối đẹp và lâu giữa họ. Có thể coi đây là hình thức thương lượng để đạt được sự thỏa thuận chung về bất đồng phát sinh, vừa là một hình thức giải quyết tranh chấp. Pháp luật của nhiều nước trên thế giới trong đó có Luật Thương mại Việt Nam khuyến khích các bên giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng giữa các bên sau đó mới sử dụng phương thức khác.
Tuy nhiên, pháp luật không bắt buộc các bên phải thương lượng trước khi giải quyết bằng các phương thức tài phán như Trọng tài hoặc Tòa án.
1.2. Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại bằng Thương lượng
Nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại được hiểu là những tư tưởng chỉ đạo chung mang tính định hướng cho việc xây dựng, thực hiện pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại nói chung và giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng nói riêng.
Về mặt lý luận thì việc xây dựng nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng cần đảm bảo những nội dung sau:
Thứ nhất, thương lượng các tranh chấp thương mại phải phù hợp với quy định của pháp luật, đạo đức xã hội.
Thứ hai, thương lượng phải tuân thủ quyền tự do ý chí của các bên trong tranh chấp.
Thứ ba, thương lượng được thực hiện theo tiêu chuẩn “khách quan, công bằng, hợp lý” tôn trọng tập quán thương mại trong nước và quốc tế.
Thứ tư, bảo toàn bí mật tài liệu, chứng cứ, ý kiến của các bên và của hòa giải viên trong quá trình thương lượng.
Thứ năm, kết quả thương lượng phải cụ thể, rõ ràng, dễ thực hiện.
Thứ sáu, các bên phải tôn trọng và tự giác thi hành các kết quả của quá trình thương lượng.
Như vậy, việc cần có những nguyên tắc để điều chỉnh vấn đề về giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng là rất cần thiết, là kim chỉ nam cho định hướng giải quyết tranh chấp. Trong trường hợp còn thiếu sót nhiều quy định của pháp luật thì việc cần có những quy tắc chung là rất quan trọng góp phần giải quyết các tranh chấp một cách nhanh chóng, triệt để giữ ổn định tình hình của doanh nghiệp.
1.3. Đặc điểm của phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng Thương lượng
Thứ nhất, phương thức giải quyết tranh chấp này được thực hiện bởi cơ chế giải quyết nội bộ (cơ chế tự giải quyết) thông qua việc các bên tranh chấp gặp nhau bàn bạc, thỏa thuận để tự giải quyết những bất đồng phát sinh mà không cần có sự hiện diện của bên thứ ba để trợ giúp hay ra phán quyết. Điều kiện để thương lượng một tranh chấp thương mại, trước hết phải xem xét thỏa mãn: có tranh chấp thương mại xảy ra, các bên mong muốn loại bỏ mâu thuẫn, khắc phục tổn thất, tiếp tục duy trì quan hệ hợp tác và các bên đều có tinh thần thiện chí, nhân nhượng, tôn trọng và giữ gìn uy tín cho nhau.
Thứ hai, quá trình thương lượng giữa các bên cũng không chịu sự ràng buộc của bất kì nguyên tắc pháp lý hay những quy định mang tính khuôn mẫu nào của pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp. Pháp luật của Việt Nam mới chỉ dừng lại ở việc ghi nhận thương lượng là một phương thức giải quyết tranh chấp thương mại (Điều 14 Luật Đầu tư năm 2020, Điều 317 Luật Thương mại năm 2005) mà không có bất kì quy định nào chi phối đến cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng.
Thứ ba, việc thực thi kết quả thương lượng hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện của mỗi bên tranh chấp mà không có bất kì cơ chế pháp lý nào bảo đảm việc thực thi đối với thỏa thuận của các bên trong quá trình thương lượng. Giải quyết tranh chấp thương mại bằng phương thức thương lượng là sự thể hiện quyền tự do thỏa thuận, tự do định đoạt của các bên tranh chấp. Các bên tự đề xuất các giải pháp và thỏa hiệp với nhau theo trình tự, thủ tục tự chọn để giải quyết các bất đồng phát sinh mà không có sự tham gia hay can thiệp của bất kì cơ quan nhà nước nào. Việc thương lượng có thể được thực hiện bằng nhiều cách thức như: thương lượng trực tiếp, thương lượng gián tiếp và kết hợp cả hai cách thức trên. Mỗi một cách thức thương lượng có tính ưu việt và hạn chế nhất định.
Vì vậy, khi tiến hành thương lượng giải quyết những mâu thuẫn trong tranh chấp các bên cần có quan điểm, thái độ, ý chí, thiện chí và ý thức để giải quyết tốt những mâu thuẫn phát sinh tránh kéo dài hay bế tắc. Khi một hoặc các bên tranh chấp thiếu sự hiểu biết về lĩnh vực đang tranh chấp, không nhận thức được vị thế của mình về khả năng thắng thua nếu phải theo đuổi vụ kiện tại cơ quan tài phán hoặc không có thái độ nỗ lực hợp tác, thiếu sự thiện chí, trung thực trong quá trình thương lượng thì khả năng thành công là rất mong manh, mục tiêu và kết quả thương lượng thường không đạt được. Bên cạnh đó, kết quả thương lượng lại không được đảm bảo bằng các thiết chế mang tính quyền lực nhà nước do đó có thể dẫn tới sự lạm dụng trong quá trình giải quyết bằng thương lượng.
