THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 28 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0009.
- Pháp luật áp dụng: Luật Trọng tài thương mại năm 2010.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI | 2 |
| 1.1. Khái niệm tranh chấp thương mại | 2 |
| 1.2. Đặc điểm của Trọng tài thương mại | 3 |
| 1.3. Điều kiện giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài | 5 |
| 1.4. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài | 5 |
| 1.5. Các hình thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài | 7 |
| 1.6. Ưu điểm và nhược điểm của giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài | 7 |
| 1.7. Thủ tục giải quyết tranh chấp Trọng tài thương mại | 8 |
| CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI | 11 |
| 2.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật về trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại | 11 |
| 2.2. Tình huống áp dụng thực tế (Phán quyết 01/2023/KDTM ngày 12/07/2023 về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa) | 12 |
| 2.3. Những hạn chế, vướng mắc | 17 |
| 2.4. Nguyên nhân | 19 |
| CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI | 21 |
| 3.1. Phương hướng, kiến nghị hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài trong thời gian tới | 21 |
| 3.2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài | 21 |
| KẾT LUẬN | 24 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 25 |
LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh toàn cầu hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ, quan hệ hợp tác giữa các quốc gia trên thế giới với nhiều phương diện về kinh tế, văn hóa – xã hội, chính trị, ngoại giao…ngày một đa dạng và phong phú. Hòa chung xu thế phát triển đó, hoạt động kinh tế quốc tế nói chung và hoạt động kinh doanh thương mại nói riêng đã có bước nhảy vọt trên các lĩnh vực về thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế, chuyển giao công nghệ… Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, thương nhân Việt Nam ngày càng quan hệ hợp tác với các đối tác không chỉ trong nước mà mở rộng ra nước ngoài, theo quy luật đó các tranh chấp trong kinh doanh thương mại có xu hướng gia tăng và diễn biến phức tạp, bởi hoạt động thương mại luôn tiềm ẩn mâu thuẫn trong quá trình mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ, đòi hỏi phải có những phương thức giải quyết nhanh chóng, hiệu quả đảm bảo lợi ích của các bên chủ thể.
Trên thực tế việc giải quyết các tranh chấp thương mại nói chung được thực hiện bằng nhiều hình thức. Trong đó, phương thức Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp được các bên lựa chọn và được sử dụng phổ biến nhất. Nhận thức được sự ưu việt của phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài, Luật Trọng tài thương mại, được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ Bảy thông qua ngày 17/6/2010 và có hiệu lực thi hành vào ngày 01/01/2011. Sau hơn 10 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, Luật đã bộc lộ một số bất cập, hạn chế nhất định, ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động tố tụng trọng tài thương mại, gây bất lợi đến môi trường đầu tư trong nước.
Xuất phát từ thực tiễn trên, em xin chọn đề tài “Giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài theo quy định của pháp luật Việt Nam, lý luận và thực tiễn” để hoàn thành bài tiểu luận của mình.
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT
VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI
1.1. Khái niệm tranh chấp thương mại
Để đi đến sự nhận thức đầy đủ về khái niệm: “Tranh chấp thương mại”, trước tiên cần làm rõ nội hàm của từng yếu tố cấu thành. Theo Từ điển Tiếng Việt (1992), tranh chấp là sự tranh đấu, giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là trong vấn đề quyền lợi giữa hai bên. Dưới góc độ pháp lý, tranh chấp được hiểu là những xung đột về quyền, quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ pháp luật.
“Thương mại” được sử dụng khá rộng rãi trong đời sống xã hội và trong nhiều các văn bản quy phạm pháp luật, song cho đến nay chưa có định nghĩa chính thức về khái niệm này. Khái niệm Thương mại hiện nay có thể hiểu là “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”[1].
Từ rất nhiều phân tích có thể hiểu khái niệm tranh chấp trong thương mại bao hàm những nội dung:
Thứ nhất, là những bất đồng, xung đột về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể có liên quan đến lĩnh vực hợp đồng thương mại
Thứ hai, là tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực hợp đồng thương mại hoặc các hợp đồng kinh tế khác
Thứ ba, theo quy định của pháp luật những tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan tài phán kinh tế (Tòa án hoặc Trọng tài)
Như vậy, phạm vi của những hoạt động thương mại và tranh chấp thương mại là rất rộng. Trong xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa đa dạng và phức tạp hiện nay, nhu cầu cần phải có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, một hành lang pháp lý an toàn về vấn đề giải quyết tranh chấp thương mại ngày một lớn.
1.2. Đặc điểm của Trọng tài thương mại
Về bản chất, trọng tài thương mại là một phương thức giải quyết tranh chấp thương mại không mang ý chí quyền lực nhà nước mà được giải quyết thông qua phán quyết của trọng tài thương mại theo thủ tục linh hoạt, mềm dẻo, là một phương thức giải quyết tranh chấp được tiến hành bởi các thiết chế đặc biệt. Do vậy, trọng tài mang một số đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, trọng tài thương mại là một loại hình tổ chức phi chính phủ, trọng tài có quyền phán quyết như tòa án và quyết định của trọng tài được cưỡng chế thi hành.
Đây là một cơ quan tài phán, có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại và được pháp luật quy định. Trọng tài là cơ quan tài phán bởi lẽ tiến hành thủ tục trọng tài là hoạt động thường xuyên và chủ yếu của các trung tâm trọng tài. Đó là các trung tâm có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng với cơ cấu tổ chức rõ ràng, chặt chẽ. Cũng như tòa án, sau khi tiến hành giải quyết tranh chấp, hội đồng trọng tài sẽ ban hành phán quyết trọng tài. Phán quyết này có giá trị pháp lý ràng buộc các bên và được đảm bảo cưỡng chế thi hành dưới sự hỗ trợ của cơ quan thi hành án (khi có yêu cầu).
Thứ hai, cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là sự kết hợp giữa hai yếu tố thỏa thuận và tài phán.
Thỏa thuận làm tiền đề cho phán quyết và không thể có phán quyết trọng tài thoát ly được những yếu tố đã được thỏa thuận. Bởi vậy, về nguyên tắc thẩm quyền của trọng tài không bị giới hạn bởi pháp luật, các đương sự có thể lựa chọn bất kỳ lúc nào, bất kỳ trọng tài vụ việc hoặc trọng tài quy chế nào trên thế giới để giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, một khi đã được thỏa thuận thì phán quyết của trọng tài có tính chất cưỡng chế và bắt buộc các bên phải thi hành.
Thứ ba, phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài bảo đảm quyền tự định đoạt của các đương sự rất cao.
Các bên có quyền lựa chọn trọng tài viên, quy tắc tố tụng trọng tài, luật áp dụng để giải quyết tranh chấp…Phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại bảo đảm quyền tự định đoạt của các đương sự cao hơn so với phương thức giải quyết tranh chấp tại tòa án.
Thứ tư, trọng tài thương mại tồn tại dưới hình thức cơ bản là: trọng tài vụ việc và trọng tài thường trực.
Trọng tài vụ việc là hình thức trọng tài được lập ra để giải quyết các tranh chấp cụ thể và tự giải thể khi giải quyết trong tranh chấp đó. Còn trọng tài thường trực là những tổ chức trọng tài có hình thức tổ chức, trụ sở ổn định, danh sách trọng tài viên và hoạt động theo điều lệ riêng.
Thứ năm, phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm, không bị kháng cáo, kháng nghị và có hiệu lực thi hành với các bên.
Do đặc thù tố tụng, tòa án có thể thực hiện ở nhiều cấp xét xử nên một bản án do tòa án tuyên bố có thể bị kháng cáo, kháng nghị, được giải quyết theo trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. Bởi vậy, nếu đưa vụ tranh chấp ra giải quyết tại tòa án sẽ mất nhiều thời gian, công sức, tiền bạc. Trong khi đó, với nguyên tắc xét xử một lần, tiêu chí các bên tranh chấp đặt ra là giải quyết nhanh gọn, ít tốn kém, tránh tình trạng dây dưa, kéo dài đã hoàn toàn được đáp ứng ở tố tụng trọng tài. Nếu một bên không thi hành thì bên kia có quyền yêu cầu tòa án công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài. Đặc điểm này thể hiện cơ chế nhanh gọn trong việc giải quyết nhanh chóng, dứt điểm các tranh chấp thương mại.
Thứ sáu, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có sự hỗ trợ của Tòa án.
Pháp luật của một số nước trên thế giới trong đó có Việt Nam đều quy định cơ chế hỗ trợ từ phía tòa án đối với tổ chức và hoạt động của trọng tài. Sở dĩ cần sự hỗ trợ của tòa án vì phán quyết của trọng tài không mang tính quyền lực nhà nước, do đó cần phải có một cơ quan nhà nước hỗ trợ – đó là tòa án.
Thông qua trình tự công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài, Tòa án đảm bảo thực thi trên thực tế những quyết định của trọng tài, khi một hoặc các bên đương sự không tự nguyện thi hành.
Ngoài ra, tòa án còn có thể hỗ trợ trọng tài ở các công việc khác như: xác định giá trị pháp lý của trung tâm trọng tài, giải quyết khiếu nại về thẩm quyền của hội đồng trọng tài; ra lệnh áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, kê biên tài sản, bảo toàn chứng cứ, xét đơn yêu cầu hủy quyết định trọng tài, công nhận và thi hành quyết định trọng tài….
1.3. Điều kiện giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài
Để được giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại cần đáp ứng những điều kiện theo Điều 5 Luật Trọng tài thương mại 2010:
Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận trọng tài.
Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp.
Trường hợp một bên tham gia thoả thuận trọng tài là cá nhân chết hoặc mất năng lực hành vi, thoả thuận trọng tài vẫn có hiệu lực đối với người thừa kế hoặc người đại diện theo pháp luật của người đó, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.
Trường hợp một bên tham gia thỏa thuận trọng tài là tổ chức phải chấm dứt hoạt động, bị phá sản, giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách hoặc chuyển đổi hình thức tổ chức, thỏa thuận trọng tài vẫn có hiệu lực đối với tổ chức tiếp nhận quyền và nghĩa vụ của tổ chức đó, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.
1.4. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài
Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận và được tiến hành theo quy định của Luật Trọng tài thương mại 2010. Bất kỳ một phương thức giải quyết nào cũng có những nguyên tắc nhất định, trọng tài thương mại không phải là một ngoại lệ. Theo Điều 4 Luật trọng tài thương mại năm 2010 có quy định cụ thể:
“Điều 4. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài
- Trọng tài viên phải tôn trọng thoả thuận của các bên nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội.
- Trọng tài viên phải độc lập, khách quan, vô tư và tuân theo quy định của pháp luật.
- Các bên tranh chấp đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ. Hội đồng trọng tài có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.
- Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài được tiến hành không công khai, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
- Phán quyết trọng tài là chung thẩm.”
Thứ ba, là về sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các bên tranh chấp. Các bên có quyền và nghĩa vụ như nhau, không hề có tính chất thiên vị bất kỳ bên nào giống như hình thức giải quyết tranh chấp tại Tòa án. Điều này cho thấy việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng hình thức trọng tài thương mại cũng vẫn đảm bảo sự công bằng như tại Tòa án.
Thứ tư, việc giải quyết tranh chấp không công khai. Đây là điểm đặc biệt của hình thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng hình thức trọng tài thương mại. Nếu giải quyết tại Tòa án thì phiên tòa giải quyết vụ việc này sẽ là công khai, bất kỳ ai cũng có thể tới tham dự được. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín thậm chí là đời sống riêng tư của các bên tranh chấp. Chưa kể đến việc những chứng cứ thu thập được để mang ra xét xử có thể là bí mật kinh doanh của các bên liên quan trực tiếp đến lợi ích của các bên. Vì vậy việc giải quyết tranh chấp thương mại không công khai là điều cần thiết cho lợi ích của các bên tham gia tranh chấp.
Cuối cùng là nguyên tắc đặc trưng nhất của phương thức giải quyết bằng trọng tài thương mại. Đó là phán quyết của trọng tài viên là chung thẩm. Nghĩa là phán quyết không thể bị kháng cáo để xét xử lại bởi bất kỳ một trọng tài hay một Tòa án nào khác. Điều có thể làm chỉ là thực hiện theo phán quyết đó hoặc không đồng ý thì một bên yêu cầu Tòa án hủy phán quyết đó mà thôi. Nguyên tắc này khiến cho việc giải quyết tranh chấp nhanh gọn hơn thay vì việc ra một quyết định rồi một bên không vừa ý thì lại kháng cáo để xử lại, điều này rất tốn thời gian và công sức. Đồng thời, nguyên tắc này cũng áp đặt lên các bên tranh chấp việc buộc phải chấp nhận phán quyết của Trọng tài viên
[1] Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005.
