• Trang chủ
  • Tiểu luận miễn phí
  • Bảng phí viết mới tiểu luận
  • Liên hệ Facebook
Tiểu luận ngành Luật

Tiểu Luận Ngành Luật

Chuyên trang tiểu luận, khóa luận, luận văn ngành luật

  • Hướng dẫn tải TÀI LIỆU
  • Danh mục môn học

Trang chủ: » TÀI LIỆU ÔN THI (Có đáp án) » 1. Đề cương ôn tập

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬPCÓ ĐÁP ÁN Hướng dẫn học tập có đáp án môn Triết học Mác-Lênin

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬPCÓ ĐÁP ÁN Hướng dẫn học tập có đáp án môn Triết học Mác-Lênin
  • Trường học: Các trường Đại học
  • Số trang: 101 trang
  • Định dạng file: WORD
  • Mã số/Năm: C0012 | Năm 2025
Phí tải: 20.000 VNĐ
TẢI TÀI LIỆU NGAY

XEM TRƯỚC NỘI DUNG TÀI LIỆU: “Hướng dẫn học tập có đáp án môn Triết học Mác-Lênin”

huong dan hoc mon triet hoc mac le nin co dap an 1 huong dan hoc mon triet hoc mac le nin co dap an 2

MỤC LỤC TÀI LIỆU

MỤC LỤC:Trang
HƯỚNG DẪN HỌC TẬP MÔN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
LỜI MỞ ĐẦU1
CHƯƠNG I: TRIẾT HỌC VÀ VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI2
A. PHẦN LÝ THUYẾT2
I. TRIẾT HỌC VÀ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC2
1. Khái lược về triết học2
2. Vấn đề cơ bản của triết học6
3. Biện chứng và siêu hình10
II. TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VÀ VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI12
1. Sự ra đời và phát triển của triết học Mác - Lênin12
2. Đối tượng và chức năng của triết học Mác17
3. Vai trò của triết học Mác - Lênin trong đời sống và trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay18
B. PHẦN BÀI TẬP19
CHƯƠNG II CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG20
A. PHẦN LÝ THUYẾT20
I. VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC20
1. Vật chất và các hình thức tồn tại của vật chất20
2. Nguồn gốc, bản chất và kết cấu của ý thức24
3. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức27
II. PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT31
1. Hai loại hình biện chứng và phép biện chứng duy vật31
2. Nội dung của phép biện chứng duy vật32
III. LÝ LUẬN NHẬN THỨC49
1. Các nguyên tắc của lý luận nhận thức duy vật biện chứng49
2. Nguồn gốc, bản chất của nhận thức51
3. Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức52
4. Các giai đoạn của quá trình nhận thức55
5. Tính chất của chân lý56
B. PHẦN BÀI TẬP58
CHƯƠNG III: CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ59
A. PHẦN LÝ THUYẾT59
I. HỌC THYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI59
1. Sản xuất vật chất là cơ sở của tồn tại và phát triển xã hội59
2. Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất59
3. Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội63
4. Sự phát triền của hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên65
II. GIAI CẤP VÀ DÂN TỘC67
1. Vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp67
2. Dân tộc73
3. Mối quan hệ giai cấp – dân tộc – nhân loại75
III. NHÀ NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG XÃ HỘI77
1. Nhà nước77
2. Cách mạng xã hội80
IV. Ý THỨC XÃ HỘI83
1. Khái niệm tồn tại xã hội, ý thức xã hội83
2. Mối quan hệ giữa tồn tại xã hội với ý thức xã hội86
V. TRIẾT HỌC VỀ CON NGƯỜI88
1. Khái niệm con người và bản chất con người88
2. Hiện tượng tha hóa con người và vấn đề giải phóng con người92
3. Quan điểm của triết học Mác – Lênin về quan hệ cá nhân và xã hội, về vai trò của quần chúng nhân dân và lãnh tụ trong lịch sử93
4. Vai trò của quần chúng nhân dân và cá nhân trong lịch sử95
5. Vấn đề con người trong sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam98
B. PHẦN BÀI TẬP100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO101

TÓM TẮT NỘI DUNG TÀI LIỆU

A. PHẦN LÝ THUYẾT

I. TRIẾT HỌC VÀ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC

1. Khái lược về triết học

Triết học ra đời sớm vào khoảng thế kỷ VIII đến thế kỷ VI (tr. CN) và đạt được thành tựu rực rỡ ở các nền triết học Trung Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại.

Mục lục:

Toggle
  • XEM TRƯỚC NỘI DUNG TÀI LIỆU: “Hướng dẫn học tập có đáp án môn Triết học Mác-Lênin”
  • MỤC LỤC TÀI LIỆU
  • TÓM TẮT NỘI DUNG TÀI LIỆU
  • A. PHẦN LÝ THUYẾT
  • I. TRIẾT HỌC VÀ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC
    • 1. Khái lược về triết học
    • 2. Vấn đề cơ bản của triết học
    • 3. Biện chứng và siêu hình
  • II. TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VÀ VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
    • 1. Sự ra đời và phát triển của triết học Mác – Lênin
    • 2. Đối tượng và chức năng của triết học Mác
    • 3. Vai trò của triết học Mác – Lênin trong đời sống và trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay
  • B. PHẦN BÀI TẬP

Nguồn gốc của triết học

– Nguồn gốc nhận thức: Triết học không xuất hiện đồng thời với sự xuất hiện của con người, nó chỉ ra đời khi năng lực tư duy trừu tượng của con người đạt đến trình độ nhất định cho phép khái quát được những hiểu biết riêng lẻ, rời rạc thành một hệ thống những quan điểm và quan niệm chung về thế giới. Như vậy, triết học chỉ ra đời khi tư duy, nhận thức của con người đạt đến trình độ trừu tượng hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa để xây dựng nên các học thuyết lý luận.

– Nguồn gốc xã hội: Triết học xuất hiện khi xã hội loài người chuyển sang chế độ chiếm hữu nô lệ, là xã hội đầu tiên có sự phân chia giai cấp, lao động trí óc tách khỏi lao động chân tay, đội ngũ trí thức xuất hiện, khi đó xã hội có một số người chuyên làm “nghề” triết học để giải thích thế giới theo lợi ích của một giai cấp nhất định. Điều đó cho thấy, chính tầng lớp lao động trí óc đã sản sinh ra triết học, ngay khi mới ra đời, triết học đã mang tính giai cấp sâu sắc, phản ánh và bảo vệ lợi ích của những giai cấp nhất định trong xã hội.

Khái niệm triết học

– Ở phương Đông: Theo người Trung Quốc, “triết” có nghĩa là “trí”, là “sáng suốt” để chỉ sự hiểu biết, nhận thức sâu rộng về thế giới. Theo người Ấn Độ, triết học có nghĩa là darshana – chiêm ngưỡng dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến lẽ phải.

– Ở phương Tây: Theo chữ Hy Lạp, triết học là “philosophia”, có nghĩa là “tình yêu sự thông thái”, nhà triết học là nhà thông thái vì họ có khả năng làm sáng tỏ bản chất của sự vật, hiện tượng bằng hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật.

Triết học ra đời cả ở phương Đông và phương Tây, mặc dù khác nhau về quan niệm nhưng nhìn chung đều coi triết học là đỉnh cao của trí tuệ, là sự nhận thức sâu sắc thế giới, đi sâu nắm được bản chất của sự vật, hiện tượng. Theo quan điểm mác xít, triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vị trí, vai trò của con người trong thế giới đó.

Như vậy, tất cả các hệ thống triết học đều là hệ thống tri thức có tính khái quát, xem xét thế giới trong tính chỉnh thể của nó, tìm ra quy luật chi phối trong chỉnh thể đó, trong tự nhiên, xã hội và bản thân con người.

Vấn đề đối tượng của triết học trong lịch sử

Trong quá trình phát triển, đối tượng nghiên cứu của triết học thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử:

– Thời kỳ cổ đại: Tri thức của loài người còn ít nên chưa có sự phân chia giữa triết học với các khoa học khác. Triết học Hy Lạp cổ đại khi mới hình thành không độc lập với các tri thức khoa học, mà thực chất là đồng nhất với chúng để hình thành nên môn khoa học tổng hợp. Các nhà triết học đầu tiên ở Hy Lạp đồng thời cũng là các nhà khoa học, như Thalets, Pithagore… Triết học đặt nhiệm vụ tìm hiểu và giải thích tự nhiên, xem xét thế giới như một chỉnh thể. Trong nền triết học tự nhiên, các khoa học nói chung bị đẩy xuống vị trí thứ yếu và bị chi phối bởi triết học. Do đó, đối tượng nghiên cứu của triết học là mọi lĩnh vực tri thức, nhưng còn sơ khai, trực quan cảm tính. Đây là nguyên nhân sâu xa nảy sinh quan niệm về sau xem “Triết học là khoa học của các khoa học”.

– Thời kỳ trung cổ ở Tây Âu: Quyền lực của giáo hội bao trùm mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, triết học trở thành “nô lệ” của thần học. Nhiệm vụ của triết học chỉ là lý giải và chứng minh tính đúng đắn của các nội dung trong Kinh Thánh, luận giải và thuyết phục con người tin tưởng vào Chúa Trời. Nền triết học tự nhiên bị thay thế bằng nền triết học kinh viện.

– Thế kỷ XV – XVI: cùng với sự phát triển của các môn khoa học tự nhiên, đồng thời là sự phục hồi của tư tưởng triết học duy vật thời kỳ cổ đại. Triết học dần tách khỏi thần học và các khoa học cụ thể, phát triển thành các bộ môn riêng biệt với các học thuyết về bản thể luận, vũ trụ luận, nhận thức luận…

– Thế kỷ XVII – XVIII: triết học duy vật dựa trên cơ sở tri thức của khoa học tự nhiên thực nghiệm đã phát triển nhanh chóng và đóng vai trò tích cực trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo. Sự phát triển của triết học duy vật thời kỳ này đạt đến đỉnh cao ở các quốc gia là Anh, Pháp, Hà Lan.

– Cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX: sự phát triển của khoa học cụ thể và những thành tựu mà nó đạt được đã làm phá sản tham vọng của các nhà triết học muốn biến triết học thành “Khoa học của mọi khoa học”, trong đó triết học Hêghen là học thuyết triết học cuối cùng mang tham vọng đó.

– Những năm 40 của thế kỷ XIX: triết học Mác ra đời đoạn tuyệt với quan niệm sai lầm xem triết học là “Khoa học của mọi khoa học”, xác định đối tượng nghiên cứu của triết học là tiếp tục giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật biện chứng, nghiên cứu những quy luật chung nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy .

Triết học – hạt nhân lý luận của thế giới quan

* Chức năng thế giới quan: Thế giới quan là toàn bộ những quan điểm, quan niệm của con người về thế giới, về bản thân con người, về vị trí, vai trò của con người trong thế giới đó .

– Về nguồn gốc của thế giới quan: Thế giới quan ra đời từ cuộc sống hiện thực của con người. Bởi vì, con người không thể sống tách khỏi thế giới sự vật hiện tượng. Trong quá trình tồn tại và phát triển của con người, hàng loạt câu hỏi được đặt ra để tìm câu trả lời: thế giới này do đâu mà có? Bản chất của thế giới là gì? Sự biến đổi của nó tác động gì đến con người? Có thần linh, ma quỷ không…? Từ đó, các quan niệm về thế giới quan được hình thành.

– Về cấu trúc: Thế giới quan được cấu thành từ hai yếu tố cơ bản là tri thức và niềm tin. Tuy nhiên, bản thân tri thức chưa phải là thế giới quan, chỉ khi nào tri thức biến thành niềm tin của con người thì tri thức đó mới trở thành thế giới quan.

– Những hình thức cơ bản của thế giới quan:

+ Thế giới quan huyền thoại (thần thoại) có nội dung pha trộn một cách không tự giác giữa thực và ảo, nó đặc trưng cho tư duy, nhận thức của người nguyên thủy về thế giới, được phản ánh qua các câu chuyện thần thoại. Thế giới quan huyền thoại thể hiện đậm nét trí tưởng tượng của “tư duy nguyên thủy” – tư duy chứa đựng sự pha trộn một cách không tự giác giữa thực và ảo, giữa người và thần. Theo

Ph. Ăngghen nhận định, thế giới quan huyền thoại là kết quả tất yếu của trình độ nhận thức thấp, khi con người chưa hiểu về nguồn gốc, nguyên nhân, bản chất của sự vật, hiện tượng trong thế giới nên họ đã nhân cách hóa, nhân hình hóa, nhân tính hóa chúng thành các vị thần hoặc bán thần trong thần thoại .

+ Thế giới quan tôn giáo biểu hiện niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của lực lượng siêu nhiên đối với thế giới, con người, được thể hiện qua các hoạt động có tổ chức để suy tôn, sùng bái lực lượng siêu nhiên. Đặc trưng chủ yếu của thế giới quan tôn giáo là niềm tin cao hơn lý trí, trong đó niềm tin vào một thế giới khác hoàn thiện, hoàn mỹ mà con người sẽ đến sau khi chết giữ vai trò chủ đạo. V. I. Lênin đã cho rằng: “Sự bất lực của giai cấp bị bóc lột trong cuộc đấu tranh chống bọn bóc lột tất nhiên đẻ ra lòng tin vào một cuộc đời tốt đẹp hơn ở thế giới bên kia, cũng giống như sự bất lực của con người dã man trong cuộc đấu tranh chống thiên nhiên đẻ ra lòng tin vào thần thánh, ma quỷ vào những phép màu…”.

+ Thế giới quan triết học được thể hiện bằng hệ thống lý luận thông qua hệ thống các khái niệm, các phạm trù, các quy luật. Thế giới quan triết học chỉ hình thành khi nhận thức của con người đã đạt đến trình độ cao của sự khái quát hóa, trừu tượng hóa cũng như khi con người ý thức được sự cần thiết phải có sự định hướng về tư tưởng, nhận thức để chỉ đạo hoạt động thực tiễn. Thế giới quan triết học được phân chia thành thế giới quan duy tâm (là thế giới quan thừa nhận bản chất của thế giới là tinh thần và thừa nhận vai trò quyết định của các yếu tố tinh thần đối với thế giới vật chất); thế giới quan duy vật (là thế giới quan thừa nhận bản chất của thế giới là vật chất, thừa nhận vai trò quyết định của vật chất đối với các biểu hiện của đời sống tinh thần và thừa nhận vị trí, vai trò của con người trong cuộc sống hiện thực). Tương ứng với ba hình thức cơ bản của chủ nghĩa duy vật (chủ nghĩa duy vật chất phác, chủ nghĩa duy vật siêu hình, chủ nghĩa duy vật biện chứng) là ba hình thức cơ bản của thế giới quan (thế giới quan duy vật chất phác, thế giới quan duy vật siêu hình và thế giới quan duy vật biện chứng).

Thế giới quan duy vật biện chứng có vai trò giúp con người có cơ sở khoa học để nhận thức bản chất của tự nhiên, xã hội và tư duy, từ đó hình thành quan điểm khoa học để định hướng mọi hoạt động của con người. Ngoài ra, triết học còn có vai trò phương pháp luận: Định hướng con người trong việc tìm tòi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng phương pháp trong hoạt động nhận thức và thực tiễn. Các cấp độ của phương pháp luận: phương pháp luận ngành; phương pháp luận chung; phương pháp luận chung nhất.

Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, không được xem thường hoặc tuyệt đối hóa phương pháp luận triết học. Nếu xem thường phương pháp luận triết học sẽ sa vào tình trạng mò mẫm, mất phương hướng, thiếu chủ động, sáng tạo trong hoạt động. Ngược lại, nếu tuyệt đối hóa vai trò của phương pháp luận triết học sẽ sa vào chủ nghĩa giáo điều và dễ bị vấp váp, thất bại. Bồi dưỡng phương pháp luận duy vật biện chứng giúp mỗi người tránh được những sai lầm như chủ quan, duy ý chí và phương pháp tư duy máy móc, siêu hình gây ra.

2. Vấn đề cơ bản của triết học

Tất cả các sự vật hiện tượng trong thế giới hiện thực chỉ có thể hoặc là hiện tượng vật chất, tồn tại bên ngoài ý thức con người hoặc là hiện tượng tinh thần, tồn tại trong ý thức con người. Như vậy, vật chất và ý thức có quan hệ với nhau như thế nào? Cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quy định cái nào? Theo Ph. Ăngghen: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là triết học hiện đại đó là vấn đề về mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại”[1]. Đây cũng là cơ sở để phân chia các trường phái triết học khác nhau trong lịch sử.

* Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt:

– Mặt thứ nhất (Bản thể luận): Giữa ý thức và vật chất cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào? Tùy cách giải đáp câu hỏi này mà các học thuyết triết học đã được chia ra thành hai trào lưu cơ bản đó là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.

+ Chủ nghĩa duy vật khẳng định vật chất có trước, ý thức có sau, thế giới vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người, không do ai sáng tạo ra; ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người, không thể có tinh thần, ý thức nếu không có vật chất; bản chất của tồn tại là vật chất, vật chất quyết định ý thức…

Chủ nghĩa duy vật có lịch sử phát triển lâu dài với nhiều hình thức khác nhau.

Hình thức đầu tiên của nó là chủ nghĩa duy vật chất phác thời cổ đại

Hình thức phát triển tiếp theo là chủ nghĩa duy vật máy móc, siêu hình thế kỷ XVII – XVIII.

Chủ nghĩa duy vật biện chứng do C. Mác, Ph. Ăngghen sáng lập vào những năm 40 của thế kỷ XIX và được V. I. Lênin kế thừa và phát triển, là hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật, có mối quan hệ chặt chẽ với các lực lượng xã hội, các giai cấp tiến bộ, cách mạng cũng như với sự phát triển của khoa học và thực tiễn xã hội.

+ Chủ nghĩa duy tâm cho rằng, tinh thần, ý thức có trước và là cơ sở tồn tại của giới tự nhiên, của vật chất; ý thức, tinh thần quyết định vật chất; bản chất của tồn tại là ý thức, tinh thần.

Chủ nghĩa duy tâm chia thành hai trường phái chủ yếu là chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ nghĩa duy tâm khách quan.

Chủ nghĩa duy tâm chủ quan cho rằng, cảm giác, ý thức con người là cái có trước, cái quyết định sự tồn tại của mọi sự vật, hiện tượng ở bên ngoài. Các sự vật, hiện tượng chỉ là “phức hợp của những cảm giác”; những màu sắc, mùi vị, những đặc tính khác nhau của sự vật chẳng qua chỉ là những cảm giác của con người. Do phủ nhận sự tồn tại của thế giới khách quan, chủ nghĩa duy tâm chủ quan phủ nhận luôn cả tính quy luật của các sự vật, hiện tượng và như thế, tất yếu dẫn đến chủ nghĩa duy ngã (ngã là tôi – là chủ nghĩa xuất phát từ cái tôi).

Chủ nghĩa duy tâm khách quan cho rằng, ý thức, ý niệm là cái có trước thế giới vật chất. Cái thực thể tinh thần tồn tại một cách “khách quan”, không phụ thuộc vào con người và loài người, nó quyết định sự tồn tại của tự nhiên, xã hội và tư duy con người. Mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội đều là hiện thân của ý niệm.

Nhìn chung, cả hai hình thái của chủ nghĩa duy tâm tuy biểu hiện khác nhau, nhưng về cơ bản lại giống nhau, bằng cách này hay cách khác đều phủ nhận nguồn gốc khách quan của thế giới tự nhiên, của vật chất, nghĩa là đều thừa nhận tinh thần, ý thức sáng tạo ra thế giới. Ở điểm này, chủ nghĩa duy tâm gần gũi với tôn giáo và “tựu trung bao giờ cũng vẫn bênh vực hay ủng hộ tôn giáo”[2]. Nguồn gốc nhận thức của chủ nghĩa duy tâm đó là sự tuyệt đối hóa vai trò của ý thức, tinh thần, như V.I. Lênin đã khẳng định “Chủ nghĩa duy tâm triết học là một sự phát triển (một sự thổi phồng, bơm to) phiến diện, thái quá… của một trong những đặc trưng, của một trong những mặt, của một trong những khía cạnh của nhận thức thành một cái tuyệt đối, tách rời khỏi vật chất, khỏi giới tự nhiên, thần thánh hóa”[3]. Nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa duy tâm là sự hình thành và phát triển các giai cấp đối lập nhau về lợi ích; là sự xuất hiện phân công giữa lao động trí óc và lao động chân tay. Sau khi tách khỏi lao động chân tay, lao động trí óc có vị trí độc lập tương đối và trở thành đặc quyền của các giai cấp bóc lột. Vì thế các nhà tư tưởng của giai cấp đó thường có thái độ coi thường lao động chân tay và ngộ nhận rằng chính lao động trí óc quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội. Những sai lầm, lệch lạc trên đây của thế giới quan duy tâm đã bị các thế lực phản động lợi dụng, khai thác nhằm biện hộ và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị.

+ Ngoài hai trường phái duy vật và duy tâm, trong triết học còn có trường phái nhị nguyên luận. Trường Phái này cho rằng cả vật chất và ý thức, tinh thần đều tồn tại song song và độc lập với nhau, trong đó nguyên thể vật chất sinh ra các hiện tượng vật chất, nguyên thể tinh thần sinh ra các hiện tượng tinh thần. Tuy nhiên, xét đến cùng, phái nhị nguyên cũng rơi vào chủ nghĩa duy tâm vì nó thừa nhận ý thức hình thành và phát triển tự nó, không phụ thuộc vào vật chất.

– Mặt thứ hai (Nhận thức luận): Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? Những nhà tư tưởng khẳng định con người có khả năng nhận thức được thế giới (thuộc trường phái có thể biết – “khả tri luận”). Những nhà triết học cho rằng, con người không thể hiểu biết thế giới (thuộc trường phái không thể biết – “bất khả tri luận”). Thuyết không thể biết đã bị phê phán gay gắt bởi chính thực tiễn đời sống xã hội cũng như sự phát triển của khoa học. Ngoài ra còn có trường phái Hoài nghi luận.

Như vậy, bất kỳ một học thuyết, một hệ thống triết học nào cũng đều phải giải quyết vấn đề cơ bản của triết học.

– Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

+ Chủ nghĩa duy vật: vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức. Chủ nghĩa duy vật có 3 hình thức cơ bản là: chủ nghĩa duy vật chất phác, chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy vật biện chứng.

+ Chủ nghĩa duy tâm: ý thức có trước, vật chất có sau, ý thức quyết định vật chất. Chủ nghĩa duy tâm có 2 hình thức cơ bản là chủ nghĩa duy tâm khách quan và chủ nghĩa duy tâm chủ quan.

– Nguyên nhân của sự đối lập giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm:

+ Chủ nghĩa duy vật: có nguồn gốc từ sự phát triển của khoa học và thực tiễn, đồng thời thường gắn liền với lợi ích của các giai cấp tiến bộ trong lịch sử.

+ Chủ nghĩa duy tâm: tuyệt đối hoá một mặt của quá trình nhận thức và thường gắn với lợi ích của các giai cấp bóc lột trong lịch sử.

– Thuyết có thể biết (khả tri) và thuyết không thể biết (bất khả tri)

+ Những người thuộc trường phái khả tri: Con người hoàn toàn có khả năng nhận thức được thế giới

+ Những người thuộc trường phái bất khả tri cho rằng: Con người không thể có khả năng nhận thức thế giới

+ Thuyết Hoài nghi luận: Nghi ngờ khả năng nhận thức của con người.

3. Biện chứng và siêu hình

Khái niệm biện chứng và siêu hình

  • Biện chứng:

Biện chứng là khái niệm dùng để chỉ mối liên hệ, tương tác, chuyển hóa và vận động, phát triển theo quy luật của các sự vật, hiện tượng, quá trình trong tự nhiên, xã hội và tư duy .

Biện chứng được chia thành biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan. Biện chứng khách quan là biện chứng của thế giới vật chất, còn biện chứng chủ quan là sự phản ánh biện chứng khách quan vào trong đời sống ý thức của con người (biện chứng của tư duy).

Như vậy, khái niệm biện chứng dùng với nghĩa vừa là lý luận, đồng thời là phương pháp khảo sát, phản ánh đối tượng trong trạng thái liên hệ, ràng buộc, tác động qua lại và trong quá trình vận động, phát triển không ngừng.

  • Siêu hình:

– Nhận thức đối tượng ở trạng thái cô lập, tách rời đối tượng ra khỏi chỉnh thể.

– Nhận thức đối tượng ở trạng thái tĩnh tại; nếu có sự biến đổi thì đó chỉ là sự biến đổi về số lượng bởi nguyên nhân bên ngoài đối tượng.

Phương pháp siêu hình làm cho con người “chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng” .

Phương pháp siêu hình bắt nguồn từ chỗ: muốn nhận thức một đối tượng nào trước hết con người cũng phải tách đối tượng ấy ra khỏi những mối liên hệ và nhận thức nó ở trạng thái độc lập, không biến đổi trong một không gian và thời gian xác định. Song phương pháp siêu hình chỉ có tác dụng trong một phạm vi nhất định bởi hiện thực không rời rạc và ngưng đọng như phương pháp siêu hình quan niệm.

* Phương pháp biện chứng:

– Nhận thức đối tượng ở trong các mối liên hệ, ảnh hưởng, ràng buộc nhau.

– Nhận thức đối tượng ở trạng thái vận động biến đổi.

– Khuynh hướng chung là phát triển. Đây là quá trình thay đổi về cả lượng và chất của các sự vật, hiện tượng mà nguồn gốc của sự thay đổi ấy là sự đấu tranh của các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn nội tại của chúng.

Như vậy, phương pháp biện chứng thể hiện tư duy mềm dẻo, linh hoạt, phản ánh hiện thực đúng như nó tồn tại. Nhờ vậy, phương pháp biện chứng trở thành công cụ hữu hiệu giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới. Phương pháp biện chứng phản ánh “biện chứng khách quan” trong sự vận động, phát triển của thế giới. Lý luận triết học của phương pháp đó được gọi là “phép biện chứng”. Phép biện chứng là học thuyết nghiên cứu, khái quát biện chứng của thế giới thành hệ thống các nguyên lý, quy luật khoa học nhằm xây dựng hệ thống các nguyên tắc phương pháp luận của nhận thức và thực tiễn.

Các hình thức của phép biện chứng trong lịch sử

– Các hình thức lịch sử của phép biện chứng trong lịch sử:

Phép biện chứng đã có lịch sử phát triển trên 2.000 năm từ thời cổ đại phương Đông và phương Tây, với ba hình thức cơ bản (cũng là thể hiện ba trình độ phát triển của phép biện chứng trong lịch sử triết học):

+ Phép biện chứng chất phác thời cổ đại là hình thức đầu tiên của phép biện chứng trong lịch sử triết học. Nó là một nội dung cơ bản trong nhiều hệ thống triết học của Trung Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại. Tiêu biểu cho những tư tưởng biện chứng của triết học Trung Quốc là “biến dịch luận” (học thuyết về những nguyên lý, quy luật biến đổi phổ biến trong vũ trụ) và “ngũ hành luận” (học thuyết về những nguyên tắc tương tác, biến đổi của các tố chất bản thể trong vũ trụ) của Âm dương gia. Trong triết học Ân Độ, biểu hiện rõ nét nhất của tư tưởng biện chứng là triết học của đạo Phật, với các phạm trù “vô ngã”, “vô thường”, “nhân duyên”… Tiêu biểu cho phép biện chứng của triết học Hy Lạp cổ đại là những quan điểm biện chứng của Heraclit.

+ Phép biện chứng duy tâm được khởi đầu từ những quan điểm biện chứng trong triết học của I. Kantơ và đạt tới đỉnh cao trong triết học của Ph. Hêghen. Ph. Hêghen đã nghiên cứu và phát triển các tư tưởng biện chứng thời cổ đại lên một trình độ mới – trình độ lý luận sâu sắc và có tính hệ thông chặt chẽ, trong đó trung tâm là học thuyết về sự phát triển. Tuy nhiên, phép biện chứng trong triết học của Ph. Hêghen là phép biện chứng được xây dựng trên lập trường duy tâm (duy tâm khách quan) nên hệ thống lý luận này chưa phản ánh đúng đắn bức tranh hiện thực của các mốì liên hệ phổ biến và sự phát triển trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Theo lý luận này, bản thân biện chứng của các quá trình trong giới tự nhiên và xã hội chỉ là sự tha hoá của bản chất biện chứng của “ý niệm tuyệt đối”.

+ Phép biện chứng duy vật do C. Mác và Ph. Ăngghen sáng lập là hình thức phát triển cao nhất của phép biện chứng. Nó được xây dựng trên cơ sở kế thừa những giá trị hợp lý trong lịch sử phép biện chứng, đặc biệt là kế thừa những giá trị hợp lý và khắc phục những hạn chế trong phép biện chứng của Ph. Hêghen; đồng thời phát triển phép biện chứng trên cơ sở thực tiễn mới, nhờ đó làm cho phép biện chứng đạt đến trình độ hoàn bị trên lập trường duy vật mới.

II. TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VÀ VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

1. Sự ra đời và phát triển của triết học Mác – Lênin

* Chủ nghĩa Mác – Lênin: là hệ thống quan điểm và học thuyết khoa học do C.Mác, Ph.Ăngghen xây dựng vào những năm 40 của thế kỷ XIX và được V.I.Lênin bảo vệ, phát triển trong điều kiện lịch sử mới.

Trên cơ sở kế thừa những giá trị tư tưởng nhân loại và tổng kết thực tiễn thời đại, chủ nghĩa Mác – Lênin là hệ thống lý luận khoa học phản ánh những quy luật chung nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy; những quy luật kinh tế của sự vận động của chủ nghĩa tư bản và sự chuyển biến từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội – giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản.

Tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin trở thành phương pháp luận phổ biến của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng, là khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động và tiến tới giải phóng toàn nhân loại khỏi áp bức, bóc lột.

* Ba bộ phận lý luận cơ bản cấu thành chủ nghĩa Mác – Lênin

Chủ nghĩa Mác – Lênin bao gồm hệ thống tri thức phong phú về nhiều lĩnh vực, trong đó có ba bộ phận lý luận quan trọng nhất là:

– Triết học Mác – Lênin: là bộ phận lý luận nghiên cứu những quy luật chung nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy; có vai trò là thế giới quan và phương pháp luận chung nhất của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng.

– Kinh tế chính trị Mác – Lênin: là bộ phận lý luận nghiên cứu những quy luật kinh tế của quá trình ra đời, phát triển và suy tàn của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa; sự ra đời, phát triển của phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa.

– Chủ nghĩa xã hội khoa học: là bộ phận lý luận nghiên cứu những quy luật vận động từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội.

Ba bộ phận lý luận này có sự thống nhất chặt chẽ, làm cơ sở, tiền đề cho nhau và đều có chung mục đích là giải phóng giai cấp vô sản, nhân dân lao động khỏi chế độ áp bức, bóc lột và tiến tới giải phóng con người.

Những điều kiện lịch sử của ra đời triết học Mác – Lênin

* Điều kiện kinh tế – xã hội

– Sự củng cố và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong điều kiện cách mạng công nghiệp. Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất do tác động của cuộc cách mạng công nghiệp, làm cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được củng cố vững chắc ở nhiều nước Châu Âu như Anh, Pháp, Đức… mặt khác những mâu thuẫn xã hội cũng thêm gay gắt và bộc lộ ngày càng rõ rệt:

+ Về mặt kinh tế: mâu thuẫn giữa tính xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với tính chất tư nhân của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.

+ Về mặt xã hội: mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản

– Sự xuất hiện của giai cấp vô sản trên vũ đài lịch sử với tư cách một lực lượng chính trị – xã hội độc lập.

+ Giai cấp vô sản và giai cấp tư sản ra đời, lớn lên cùng với sự hình thành và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong lòng chế độ phong kiến.

+ Mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản vốn mang tính chất đối kháng ngày càng phát triển, thể hiện bằng những cuộc đấu tranh giai cấp ở khắp nơi như Anh, Pháp, Đức, Ý …Tuy nhiên những cuộc đấu tranh tự phát này đều thất bại do không có đường lối khoa học, chưa có lực lượng dẫn dắt và chưa tập hợp được đông đảo lực lượng tham gia

– Thực tiễn cách mạng của giai cấp vô sản là cơ sở chủ yếu nhất cho sự ra đời chủ nghĩa Mác: Thực tiễn xã hội nói chung, nhất là thực tiễn cách mạng của giai cấp vô sản, đòi hỏi phải được soi sáng bởi lý luận mới, tiến bộ và cách mạng. Chủ nhĩa Mác – Lênin ra đời trong thời điểm này là một tất yếu lịch sử, để đáp ứng nhu cầu thực tiễn đó.

* Những tiền đề của sự ra đời chủ nghĩa Mác – Lênin

– Tiền đề lý luận:

+ Triết học cổ điển Đức: C.Mác đã kế thừa và cải biến những hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng duy tâm của Hêghen và chủ nghĩa duy vật siêu hình của Phoiơbắc để hình thành nên phép biện chứng duy vật.

+ Kinh tế chính trị học cổ điển Anh: C.Mác kế thừa những yếu tố khoa học trong lý luận về giá trị lao động và những tư tưởng tiến bộ về quá trình sản xuất vật chất, về những quy luật kinh tế khách quan của A. Smit và Đ. Ricacđô; đồng thời chỉ ra những hạn chế trong học thuyết của các ông và giải quyết những bế tắc mà bản thân các nhà kinh tế chính trị học cổ điển Anh đã không thể vượt qua. Trên cơ sở đó, C.Mác đã xây dựng nên lý luận về giá trị thặng dư, luận chứng cho bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản, nguồn gốc dẫn đến sự thay thế chủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa cộng sản.

+ Chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp: với những đại biểu tiêu biểu như H. Xanhximông, S. Phuriê, R. Ôoen. Tinh thần nhân đạo, sự phê phán những bất công của chủ nghĩa tư bản, những quan niệm sâu sắc về đặc trưng của xã hội tương lai trong học thuyết của các ông là một trong những tiền đề quan trọng cho sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học.

– Tiền đề khoa học tự nhiên:

Sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa Mác còn dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên. Vào thế kỷ XIX, khoa học tự nhiên thời kỳ này phát triển mạnh mẽ, đặc biệt có ba công trình khoa học vĩ đại:

+ Định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng chứng minh sự chuyển hoá và bảo toàn của các hình thức vận động của vật chất, vật chất không tự nhiên sinh ra, không tự nhiên mất đi mà chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác.

+ Học thuyết tiến hoá chứng minh nguyên lý phát triển của chủ nghĩa Mác – Lênin, mọi sự vật, hiện tượng tồn tại khách quan, đều có quá trình phát sinh, phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ hiện tượng đến bản chất.

+ Học thuyết tế bào chứng minh tính thống nhất của toàn bộ sự sống, thế giới vô cùng phong phú, đa dạng nhưng đều thống nhất ở tính vật chất của nó.

Những phát minh trên đã chứng minh tính khoa học đúng đắn của thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận biện chứng duy vật.

Những thời kỳ chủ yếu trong sự hình thành và phát triển của Triết học Mác – Lênin

– Quá trình chuyển biến tư tưởng của C. Mác và Ph. Ăngghen từ chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa cộng sản.

– Giai đoạn đề xuất những nguyên lý triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử ( từ năm 1844 đến năm 1848).

– Giai đoạn Mác và Ăngghen bổ sung và phát triển lý luận triết học.

Thực chất và ý nghĩa cuộc cách mạng trong triết học do C.Mác và Ph.Ăngghen thực hiện

– Mác và Ăngghen đã kế thừa một cách có phê phán những thành tựu của tư duy nhân loại, sáng tạo nên chủ nghĩa duy vật triệt để.

– Triết học Mác đã khắc phục sự tách rời thế giới quan duy vật và phép biện chứng trong lịch sử phát triển của triết học, Mác đã làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên “hoàn bị và mở rộng học thuyết ấy từ chỗ nhận thức giới tự nhiên đến chỗ nhận thức xã hội loài người, chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học”. Đó là cuộc cách mạng thật sự trong triết học xã hội, yếu tố chủ yếu của bước ngoặt cách mạng mà Mác và Ăngghen đã thực hiện trong triết học.

– Triết học Mác là thế giới quan khoa học của giai cấp công nhân, giai cấp tiến bộ và cách mạng nhất, một giai cấp có lợi ích phù hợp với lợi ích cơ bản của nhân dân lao động và sự phát triển xã hội. Sự kết hợp lý luận của chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân đã tạo nên bước chuyển biến về chất của phong trào từ trình độ tự phát lên tự giác.

– Vai trò cách mạng to lớn của triết học Mác được nâng cao còn vì sự thống nhất tính khoa học với tính cách mạng trong bản thân lý luận của nó. Sự thống nhất hữu cơ chủ nghĩa duy vật với phép biện chứng làm cho triết học mác-xít mang tính cách mạng sâu sắc nhất. Sức mạnh “cải tạo thế giới” của triết học mác- xít chính là ở sự gắn bó mật thiết với cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản cách mạng, với quần chúng nhân dân đông đảo.

Giai đoạn Lênin đóng góp sự phát triển triết học Mác

Trong khi lãnh đạo công cuộc xây dựng những cơ sở ban đầu của chủ nghĩa xã hội, Lênin tiếp tục có những đóng góp mới quan trọng vào việc phát triển triết học Mác. Để bảo vệ chủ nghĩa Mác, V.I.Lênin không chỉ phê phán không khoan nhượng đối với mọi kẻ thù của chủ nghĩa Mác, mà còn kịch liệt phê phán những người nhân danh lý luận của Mác trên lời nói nhưng thực tế là chủ nghĩa xét lại, hoặc ít ra đã xa rời học thuyết của Mác. Đồng thời, Lênin chú trọng tổng kết kinh nghiệm thực tiễn cách mạng và dựa vào những thành quả mới nhất của khoa học để bổ sung, phát triển di sản lý luận mà Mác và Ăngghen để lại. Với tinh thần biện chứng duy vật, xem chân lý là cụ thể, có khi V.I.Lênin đã phải thay đổi một cách căn bản đối với một quan niệm nào đó của mình về chủ nghĩa xã hội, không chấp nhận mọi thứ biểu hiện của chủ nghĩa giáo điều. Chính vì thế mà một giai đoạn mới trong sự phát triển của chủ nghĩa Mác nói chung, triết học Mác nói riêng đã gắn liền với tên tuổi của V.I.Lênin và được gọi là triết học Mác – Lênin nói riêng, chủ nghĩa Mác – Lênin nói chung.

2. Đối tượng và chức năng của triết học Mác

Khái niệm triết học Mác – Lênin

Triết học Mác – Lênin là một trong ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác – Lênin, được C. Mác, Ph. Ăngghen sáng lập vào giữa thế kỷ thứ XIX, sau đó được V.I.Lênin phát triển. Triết học Mác – Lênin ra đời vào những năm 40 thế kỉ XIX và được phát triển gắn chặt với những thành tựu khoa học và thực tiễn trong phong trào cách mạng công nhân. Sự ra đời của triết học Mác – Lênin là một cuộc cách mạng thực sự trong lịch sử tư tưởng loài người, trong lịch sử triết học. Triết học Mác – Lênin là hệ thống quan điểm duy vật biện chứng về tự nhiên, xã hội và tư duy – thế giới quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động để nhận thức và cải tạo thế giới.

Đối tượng của triết học Mác – Lênin

Tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật biện chứng và nghiên cứu những quy luật vận động phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và của tư duy. Với việc xác định đối tượng nghiên cứu như vậy, triết học Mác – Lênin có đối tượng nghiên cứu khác với các khoa học cụ thể. Các khoa học cụ thể nghiên cứu những quy luật trong các lĩnh vực riêng biệt của tự nhiên, xã hội hoặc tư duy, còn triết học Mác – Lênin nghiên cứu những quy luật chung nhất, phổ biến nhất, tác động đến cả lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy.

Tuy có đối tượng nghiên cứu khác nhau nhưng giữa triết học Mác

– Lênin và các khoa học cụ thể có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, bổ sung cho nhau. Các khoa học cụ thể cung cấp những dữ liệu, đặt ra những vấn đề khoa học mới, làm tiền đề, cơ sở cho sự phát triển triết học. Các khoa học cụ thể tuy có đối tượng và chức năng riêng của mình nhưng đều phải dựa vào một thế giới quan và một phương pháp luận triết học nhất định.

Chức năng của triết học Mác – Lênin

– Chức năng thế giới quan: Triết học Mác – Lênin mang lại thế giới quan duy vật biện chứng, là hạt nhân thế giới quan khoa học và cách mạng. Hệ thống quan điểm khoa học, duy vật biện chứng về thế giới là nhân tố định hướng con người nhận thức đúng đắn thế giới hiện thực, nắm được bản chất của tự nhiên, xã hội và tư duy, giúp con người hình thành quan điểm khoa học định hướng mọi hoạt động. Như vậy, thế giới quan cũng đóng vai trò phương pháp luận. Thế giới quan duy vật biện chứng có vai trò là cơ sở khoa học để đấu tranh với các loại thế giới quan duy tâm, tôn giáo, phản khoa học. Với bản chất khoa học và cách mạng, thế giới quan duy vật biện chứng là hạt nhân trong hệ tư tưởng của giai cấp công nhân và các lực lượng tiến bộ, cách mạng, là cơ sở lý luận trong cuộc đấu tranh với các tư tưởng phản cách mạng, phản động, phòng, chống chiến lược “Diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hiện nay.

– Chức năng phương pháp luận: Triết học Mác – Lênin thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất cho nhận thức và thực tiễn, trang bị cho con người hệ thống những nguyên tắc, quy tắc, yêu cầu cũng như hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật để làm công cụ nhận thức, giúp con người phát triển tư duy khoa học. Tuy nhiên, triết học Mác – Lênin không phải là “chìa khóa vạn năng” có thể giải quyết được mọi vấn đề. Để đem lại hiệu quả trong nhận thức và hành động, cùng với tri thức triết học, con người cần phải có tri thức khoa học, công nghệ cụ thể và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn.

3. Vai trò của triết học Mác – Lênin trong đời sống và trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay

– Triết học Mác – Lênin là thế giới quan, phương pháp luận khoa học và cách mạng cho con người trong nhận thức và thực tiễn

– Triết học Mác – Lênin là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học và cách mạng để phân tích xu hướng phát triển của xã hội trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại phát triển mạnh mẽ.

– Triết học Mác – Lênin là cơ sở lý luận khoa học của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên thế giới và sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

B. PHẦN BÀI TẬP

  1. Các trường phái triết học trong lịch sử được phân chia dựa trên cơ sở chủ yếu nào? Phân tích nội dung cơ bản của các trường phái đó?
  2. Triết học Mác – Lênin có vai trò gì trong đời sống xã hội hiện nay? Liên hệ với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam? Liên hệ với bản thân?
  3. Phân tích sự ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin đối với phong trào cách mạng thế giới, đặc biệt đối với Việt Nam?
  4. Khoa học tự nhiên ảnh hưởng như thế nào đối với các hình thức phát triển của chủ nghĩa duy vật trong lịch sử?
  5. Phân tích vai trò của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đối với sự ra đời của chủ nghĩa Mác – Lênin?

[1] C. Mác và Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 21, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 403.

[2] V. I. Lênin (1980), Toàn tập, tập 23, NXB Tiến bộ, Mátxcơva, tr. 50.

[3] V. I. Lênin (1981), Toàn tập, tập 29, NXB Tiến bộ, Mátxcơva, tr. 385.

TẢI VỀ: Bấm tải ngay để sở hữu toàn bộ nội dung của tài liệu!
TẢI TÀI LIỆU NGAY - 20.000 VNĐ
Định dạng WORD  |   101 trang   |   Tải file tự động 24/7

Xem thêm tài liệu liên quan:

  • BÀI TẬP NHÓM9.25 ĐIỂMBài tập nhóm môn Luật Hành chính
  • [CÓ ĐÁP ÁN] TRỌNG TÂM TRẮC NGHIỆM ÔN TẬP THI KẾT THÚC MÔN MÔN TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
  • [CÓ ĐÁP ÁN] Đề cương ôn tập môn Triết học
  • ĐỀ THICÓ ĐÁP ÁNTuyển tập đề thi môn Luật Hình sự có đáp án
  • ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬPCÓ ĐÁP ÁNĐáp án 44 Câu hỏi tự luận ôn thi môn Tư tưởng Hồ Chí Minh

Chuyên mục: 1. Đề cương ôn tập/ TÀI LIỆU ÔN THI (Có đáp án)
Từ khóa: Đề cương ôn tập/ Đề cương ôn tập Triết học/ Tài liệu học tập Triết học

Primary Sidebar

Báo cáo thực tập (điểm 8.5+)

  • Công ty Luật & Văn phòng Luật sư
  • Tòa án nhân dân
  • Cơ quan Nhà nước & Doanh nghiệp
  • Văn phòng & Phòng công chứng

Nhóm Luật Hiến pháp | Hành chính

  • Tiểu luận Luật Hiến pháp Việt Nam
  • Tiểu luận Luật Hiến pháp nước ngoài
  • Tiểu luận Luật Tổ chức chính quyền địa phương
  • Tiểu luận Luật Hành chính Việt Nam
  • Tiểu luận Luật Tố tụng hành chính
  • Tiểu luận Cải cách hành chính nhà nước
  • Tiểu luận Đăng ký và quản lý hộ tịch
  • Tiểu luận Luật Ngân sách nhà nước
  • Tiểu luận Pháp luật về Quyền con người
  • Tiểu luận Luật Khiếu nại – khiếu kiện hành chính
  • Tiểu luận Pháp luật về Thanh tra – Khiếu nại – Tố cáo
  • Tiểu luận Nhà nước trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa
  • Tiểu luận Lý luận và thực tiễn về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
  • Tiểu luận Pháp luật về Thu hồi đất – bồi thường và giải phóng mặt bằng
  • Tiểu luận Xây dựng văn bản pháp luật
  • Tiểu luận Luật Phòng chống tham nhũng
  • Tiểu luận Pháp luật về Người khuyết tật
  • Tiểu luận Tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân
  • Tiểu luận Tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân
  • Tiểu luận Luật An sinh xã hội

Nhóm Luật Hình sự | Tội phạm học

  • Tiểu luận Luật Hình sự Việt Nam
  • Tiểu luận Luật Tố tụng hình sự
  • Tiểu luận Tư pháp người chưa thành niên
  • Tiểu luận Luật Thi hành án hình sự
  • Tiểu luận Luật Hình sự quốc tế
  • Tiểu luận Quyền con người trong tư pháp hình sự
  • Tiểu luận Biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự
  • Tiểu luận Các giai đoạn tố tụng trong tố tụng hình sự Việt Nam
  • Tiểu luận môn Những vấn đề hiện đại về Luật tố tụng hình sự
  • Tiểu luận Quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự
  • Tiểu luận Trách nhiệm hình sự và hình phạt
  • Tiểu luận Khoa học điều tra tội phạm
  • Tiểu luận Tội phạm học
  • Tiểu luận Lý luận về phòng ngừa tội phạm

Nhóm ngành Luật Dân sự | HNGĐ

  • Tiểu luận Luật Dân sự Việt Nam
  • Tiểu luận Luật Tố tụng dân sự
  • Tiểu luận Luật Thi hành án dân sự
  • Tiểu luận Thủ tục đặc biệt trong tố tụng dân sự
  • Tiểu luận Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
  • Tiểu luận Những vấn đề lý luận và thực tiễn chuyên sâu về tài sản
  • Tiểu luận Luật Hôn nhân và gia đình

Nhóm ngành Luật Thương mại

  • Tiểu luận Luật Thương mại Việt Nam
  • Tiểu luận Luật Thương mại quốc tế
  • Tiểu luận Luật Thương mại điện tử
  • Tiểu luận Hợp đồng thương mại
  • Tiểu luận Luật Doanh nghiệp
  • Tiểu luận Luật Đất đai
  • Tiểu luận Pháp luật về Kinh doanh bất động sản
  • Tiểu luận Luật Nhà ở
  • Tiểu luận Luật Đầu tư
  • Tiểu luận Luật An toàn thực phẩm
  • Tiểu luận Luật Cạnh tranh
  • Tiểu luận Luật Chứng khoán
  • Tiểu luận Luật Kinh doanh bảo hiểm
  • Tiểu luận Luật Lao động Việt Nam
  • Tiểu luận Luật Luật sư
  • Tiểu luận Luật Môi trường Việt Nam
  • Tiểu luận Luật Ngân hàng Việt Nam
  • Tiểu luận Luật Phá sản
  • Tiểu luận Luật Tài chính
  • Tiểu luận Luật Thuế Việt Nam
  • Tiểu luận Pháp luật về Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
  • Tiểu luận Pháp luật về Công chứng – chứng thực
  • Tiểu luận Pháp luật về Dữ liệu cá nhân và công nghệ số
  • Tiểu luận Pháp luật về Đấu thầu và đấu giá tài sản
  • Tiểu luận Luật Sở hữu trí tuệ
  • Tiểu luận Pháp luật về Thương mại hóa tài sản trí tuệ
  • Tiểu luận Pháp luật về Y tế
  • Tiểu luận Thanh toán quốc tế

Nhóm ngành Luật Quốc tế | So sánh

  • Tiểu luận Công pháp quốc tế
  • Tiểu luận Tư pháp quốc tế
  • Tiểu luận Luật Thương mại quốc tế
  • Tiểu luận Luật Hình sự quốc tế
  • Tiểu luận Thanh toán quốc tế
  • Tiểu luận Luật Hàng hải quốc tế
  • Tiểu luận Pháp luật trong hoạt động kinh tế đối ngoại
  • Tiểu luận Luật Biển
  • Tiểu luận Pháp luật cộng đồng ASEAN
  • Tiểu luận Pháp luật Liên minh Châu Âu
  • Tiểu luận Luật So sánh
  • Tiểu luận Pháp luật về Chống bán phá giá – chống trợ cấp và biện pháp phòng vệ thương mại

Các môn học đại cương

  • Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh
  • Tiểu luận Triết học
  • Tiểu luận Đại cương Văn hóa Việt Nam
  • Tiểu luận Chủ nghĩa xã hội khoa học
  • Tiểu luận Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
  • Tiểu luận Lịch sử học thuyết chính trị
  • Tiểu luận Lịch sử nhà nước và pháp luật
  • Tiểu luận Lịch sử văn minh thế giới
  • Tiểu luận Logic học
  • Tiểu luận Tư duy biện luận ứng dụng
  • Tiểu luận Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
  • Tiểu luận Đường lối quốc phòng và an ninh của Đảng Cộng sản Việt Nam
  • Tiểu luận Đạo đức người cán bộ kiểm sát
  • Tiểu luận Kinh tế Chính trị học Mác-Lênin
  • Tiểu luận Kỹ năng chung về tư vấn pháp luật
  • Tiểu luận Kỹ năng đàm phán – giao kết và giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự
  • Tiểu luận Kỹ năng đàm phán – soạn thảo hợp đồng kinh doanh – thương mại
  • Tiểu luận Kỹ năng giải quyết tranh chấp
  • Tiểu luận Kỹ năng thẩm định thẩm tra Văn bản quy phạm pháp luật
  • Tiểu luận Kỹ năng thực hành nghề nghiệp
  • Tiểu luận Hướng nghiệp nghề Luật
  • Legal English Essay
  • Tiểu luận Luật Hòa giải – đối thoại tại Tòa án
  • Tiểu luận Nhập môn nghiên cứu khoa học
  • Tiểu luận Lý luận chung về Viện kiểm sát và công tác kiểm sát
  • Tiểu luận Lý luận nhà nước và pháp luật
  • Tiểu luận Pháp luật đại cương
  • Tiểu luận Tâm lý học đại cương
  • Tiểu luận Tâm lý học tư pháp
  • Tiểu luận Xã hội học pháp luật
  • Tiểu luận Xây dựng lập luận pháp lý và viết trong hành nghề luật

Công nghệ chúng tôi sử dụng?

Copyright © 2008 - 2026 Bản quyền nội dung thuộc về Tiểu Luận Ngành Luật. DMCA.com Protection Status