THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Kiểm sát Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 23 trang (cả bìa)
- Năm: 2022 / Mã số: B0167.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG I: TRÌNH BÀY MỐI LIÊN HỆ GIỮA BA YẾU TỐ SINH HỌC, TÂM LÝ VÀ XÃ HỘI TRONG NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI DƯỚI GÓC ĐỘ TỘI PHẠM HỌC | 2 |
| 1.1. Mối quan hệ của yếu tố sinh học và yếu tố tâm lý | 2 |
| 1.2. Các yếu tố xã hội sẽ là điều kiện để tâm lý nhận thức và điều chỉnh thành hành vi | 3 |
| 1.3. Mối liên hệ giữa các yếu tố tâm lí với các yếu tố xã hội, sinh học trong lý giải nhân thân người phạm tội | 5 |
| CHƯƠNG II: LIÊN HỆ CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC KHOẺ, NHÂN PHẨM, DANH DỰ CON NGƯỜI Ở QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI | 7 |
| 2.1. Tình hình tội phạm về xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm và danh dự con người ở quận Hoàng Mai 10 tháng đầu năm 2021 (từ ngày 1/12/2020 đến 22/11/2021) | 7 |
| 2.2. Cơ cấu tội phạm theo đặc điểm tiền án, tiền sự của người phạm tội | 7 |
| 2.3. Cơ cấu tội phạm theo giới tính người phạm tội | 8 |
| 2.4. Cơ cấu tội phạm theo đặc điểm nghề nghiệp của người phạm tội | 9 |
| 2.5. Nguyên nhân tội phạm về xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm và danh dự con người trên địa bàn quận Hoàng Mai | 10 |
| 2.6. Biện pháp phòng ngừa tội phạm về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm và danh dự con người trên địa bàn quận Hoàng Mai | 12 |
| KẾT LUẬN | 15 |
| PHỤ LỤC | 16 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 19 |
LỜI MỞ ĐẦU
Tội phạm học là ngành khoa học xã hội có vai trò đắc lực trong kiểm soát, đẩy lùi tội phạm, duy trì an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Với tính chất là khoa học liên ngành nghiên cứu về tội phạm, tội phạm học làm sáng tỏ các vấn đề như tình hình tội phạm, nguyên nhân của tội phạm và nạn nhân tội phạm…. Trong đó, nhân thân người phạm tội là vấn đề đáng được quan tâm và quan trọng trong vấn đề nghiên cứu tội phạm, mà đặc biệt trong đó là các ý nghĩa trong việc định tội danh, quyết định hình phạt hay xem xét việc tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tội phạm học nghiên cứu tất cả các đặc điểm nhân thân người phạm tội có khả năng tác động làm phát sinh ý định phạm tội cũng như thúc đẩy hành vi phạm tội trên thực tế. Cơ chế hành vi phạm tội là vô cùng phức tạp, nó có sự tác động, pha trộn, đan xen giữa yếu tố chủ quan trong cá nhân người phạm tội với yếu tố môi trường. Khi nhắc đến yếu tố thuộc chủ quan người phạm tội cũng cho thấy sự đa dạng, phức tạp, sự tham gia của rất nhiều các dấu ấn đặc điểm nhân thân, từ những tác động của các dấu ấn thuộc về đặc điểm tâm lý (như buồn chán, mệt mỏi, căng thẳng, nóng nảy, hung hăng…), đến những tác động thuộc về tình cảm (như thái độ ghen tuông, sự ghét bỏ, căm thù…), đến những tác động bởi lối sống, nhận thức, quan niệm lệch chuẩn (như sống hưởng thụ, ích kỷ, vụ lợi, coi thường, không tuân thủ, chống đối…). Tội phạm học nghiên cứu tất cả những dấu ấn, tác động của từng đặc điểm nhân thân nhằm xác định rõ vai trò của chúng trong cơ chế hành vi phạm tội, đồng thời để phục vụ cho các mục đích như: tìm nguyên nhân làm phát sinh tội phạm, dự báo được nguy cơ tái thực hiện hành vi phạm tội cũng như để ra các biện pháp phòng ngừa tội phạm.
Xuất phát từ lí do đó, em xin được nghiên cứu đề tài số 6: “Trình bày mối liên hệ giữa ba yếu tố sinh học, tâm lý và xã hội trong nhân thân người phạm tội dưới góc độ tội phạm học. Liên hệ với các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự con người ở địa phương anh (chị).”
Bài viết em có phân tích số liệu của quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội, mục đích là chỉ nghiên cứu và đánh giá tình hình tội phạm của quận Hoàng Mai dựa trên những số liệu mà em thu thập được chứ không vì mục đích nào khác.
CHƯƠNG I: TRÌNH BÀY MỐI LIÊN HỆ GIỮA BA YẾU TỐ SINH HỌC, TÂM LÝ VÀ XÃ HỘI TRONG NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI DƯỚI GÓC ĐỘ TỘI PHẠM HỌC
1.1. Mối quan hệ của yếu tố sinh học và yếu tố tâm lý
Vấn đề về mối quan hệ giữa đặc điểm tâm lí và sinh học trong nhân thân người phạm tội có nhiều quan điểm không đồng nhất với nhau. Giả sử như quan điểm của các nhà tội phạm học tư sản cho rằng yếu tố sinh học quyết định mọi tính chất, nội dung của con người. Họ đã sử dụng hàng loạt kiến thức sinh vật học, nhân chủng học, di truyền học, tâm thần học và cả phân tích hệ thần kinh để quy ra các nguyên nhân phạm tội về các đặc điểm sinh học trong nhân thân người phạm tội. Như vậy, theo quan điểm của một số nhà tội phạm học tư sản đã tuyệt đối hóa các đặc điểm sinh học trong nhân thân con người, phủ nhận vai trò của các điều kiện, hoàn cảnh xã hội trong quá trình hình thành nhân cách con người. Quan điểm đó nhằm mục đích để che dấu sự bất bình đẳng của con người trong xã hội tư bản, phủ nhận bản chất, giai cấp của tội phạm; khẳng định bản chất con người không thể thay đổi, giáo dục, cải tạo được; như vậy cũng đồng nghĩa với việc giai cấp và nhà nước sẽ bất lực trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm[3].
Thực tế thì nguyên nhân và điều kiện sinh ra tội phạm đều được biểu hiện trong từng con người phạm tội cụ thể. Trong mỗi con người quá trình xã hội hoá do tính tích cực và khả năng cảm nhận môi trường mà người đó trở thành thuộc tính cá nhân sản sinh ra tâm lý, tình cảm và nhận thức của cá nhân về các vấn đề liên quan[3]. Còn tính sinh vật chỉ là điều kiện vật chất để phát triển bản chất xã hội của nhân thân người đó. Không thể giải thích nguyên nhân và điều kiện của tội phạm thuần túy dựa vào tính sinh học hoặc tính di truyền của con người. Giống như việc có một hành vi gây nguy hiểm cho xã hội nhưng không phải là tội phạm. Ví dụ: Hành vi phạm tội của người dưới 14 tuổi thực hiện thì cũng không được xem là tội phạm. Vì những người này do chưa nhận thực được hành vi của mình nên pháp luật Việt Nam quy định đây không phải là chủ thể của tội phạm (điều 12 BLHS 2015).
Các đặc điểm sinh học, các quan hệ tâm sinh lí có ảnh hướng tới quá trình hình thành tính cách, tâm lý con người[3]. Chúng ta tuy không công nhận tính sinh học trong nhân thân người phạm tội nhưng chúng ta không được bỏ qua mà phải nghiên cứu nó để xác định quá trình hình thành con người phạm tội, điều kiện thức đẩy người đó thực hiện tội phạm. Các yếu tố sinh học tuy con người không có sự lựa chọn khi có những đặc điểm đó trong cơ thể, tuy nhiên trong quá trình sinh sống, tiếp xúc với môi trường xã hội thì họ hoàn toàn có thể nhận thức và làm chủ hành vi của mình để kìm hãm những yếu tố xấu của sinh học. Như vậy, tâm lí có vai trò quan trọng trong việc nhận thức và thực hiện hành vi của con người[3].
1.2. Các yếu tố xã hội sẽ là điều kiện để tâm lý nhận thức và điều chỉnh thành hành vi
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng tâm lí chính là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Muốn có tâm lí con người cần có hai yếu tố tác động đồng thời đó là hiện thực khách quan và hoạt động bình thường của não bộ con người. Thiếu một trong hai nhân tố không thể có được tâm lí. Não là cơ sở vật chất, là nơi nảy sinh, tồn tại của tâm lí. Não được hình thành và phát triển là kết quả của một quá trình vận động, biến hóa lâu dài của vật chất. Tâm lí chính là kết quả sự tiến hóa, phát triển lâu dài của bản thân thế giới vật chất. Tâm lí con người khác về chất so với tâm lí động vật vì con người có ý thức, có ngôn ngữ và có khả năng phân tích, tổng hợp, khái quát hóa….Tâm lí là kết quả của sự phát triển lâu dài của vật chất. Không có não hoạt động thì không có tâm lý. Nhưng có não không thôi thì chưa đủ mà phải có hiện thực khách quan tác động vào não. Hiện thực khách quan đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển tâm lí[3].
Con người không chỉ có quan hệ với những người đương thời mà còn có quan hệ với các thế hệ trước biểu hiện là thế hệ sau đã kế thừa một lực lượng sản xuất và di sản văn hóa mà các thế hệ trước tích lũy được. Vì thế trong quá trình sống của mình con người có đươc những kinh nghiệm sống ngày càng tiến bộ hơn, điều đó được lưu giữ trong tâm lý của con người, được não lưu giữ và điều chỉnh hành vi của mình[3].
Khi con người tham gia vào các quan hệ xã hội, con người sẽ có những kinh nghiệm được tích lũy, thông qua quá trình xử lý thông tin của não bộ, con người có những hành vi tương ứng để đáp trả lại với các hiện tượng của xã hội. Con người sống trong môi trường xấu (thường xuyên chứng kiến cảnh phạm tội, là nạn nhân, giao du cùng những người xấu…) sẽ có thể có 2 trường hợp xảy ra:
Trường hợp thứ nhất, khi nhìn thấy những người xung quanh cũng có những hành vi tương tự, người thực hiện hành vi phạm tội sẽ không nghĩ đó là phạm tội nhưng so với chuẩn mực hành vi của cả xã hội thì đó là tội phạm. Chính sự thiếu hiểu biết và môi trường xung quanh tác động đã làm thay đổi, tác động đến tâm lý của người phạm tội.
VD: Ông bà ta nói muốn biết tính cách, suy nghĩ, trình độ hiểu biết của 1 bạn nào đó thì bạn có thể tìm hiểu qua những người bạn thân mà bạn đó hay chơi. Vì nó sẽ có ảnh hưởng; sự thay đổi và tác động theo từng ngày.
Trường hợp thứ hai: không có nghĩa là mọi người sống trong hoàn cảnh xấu sẽ hoàn toàn trở thành tội phạm, bởi vì tâm lý điều chỉnh hành vi thế nên sẽ có trường hợp khác xảy ra, khi nhìn thấy được mọi người xung quanh phạm tội, con người tự nhận thức được hành vi của mình là sai lệch, lòng trắc ẩn của con người sẽ trỗi lên và lương tâm thức tỉnh kéo họ trở về con đường làm người tốt.
VD: Vì sống trong môi trường cực khổ, khó khăn, nghèo đói nên A đã quyết tâm học thật giỏi và kiếm tiền phụ giúp gia đình để thoát khỏi hoản cảnh đó.
Có thể thấy, tâm lý đóng vai trò quan trọng trong nhân thân người phạm tội, điều chỉnh các hành vi có liên quan và nhận thức được hành vi đó là phù hợp hay không phù hợp với xã hội, các đặc điểm sinh học hay môi trường sống chúng ta có thể bị tác động ít nhiều vào tâm lý, nhưng chính tâm lý mới là yếu tố quyết định một người sẽ thực hiện hay không thực hiện một hành vi.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
https://shop.tieuluannganhluat.com/san-pham/moi-lien-he-giua-ba-yeu-to-sinh-hoc-tam-ly-va-xa-hoi-trong-nhan-than-nguoi-pham-toi-duoi-goc-do-toi-pham-hoc/
[xyz-ihs snippet=”B0167″]
