THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 41 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0060.
- Pháp luật áp dụng: Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| 1. Đặt vấn đề | 1 |
| 2. Mục đích và phương pháp nghiên cứu | 2 |
| 3. Kết cấu đề tài | 3 |
| CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN | 4 |
| 1.1. Cơ sở lý luận | 4 |
| 1.1.1. Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài | 4 |
| 1.2. Quy định về Thẩm quyền xét xử riêng biệt của Tòa án Việt Nam | 8 |
| CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH NHỮNG VẤN ĐỀ TRONG QUY ĐỊNH CỦA ĐIỀU 470 BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2015 | 10 |
| 2.1. Vấn đề thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam loại trừ thẩm quyền của Trọng tài | 10 |
| 2.1.1. Phán quyết của Trọng tài không được công nhận | 10 |
| 2.1.2. Phán quyết của Trọng tài có thể bị hủy | 11 |
| 2.2. Vấn đề về tranh chấp bất động sản tại điểm a khoản 1 Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 | 14 |
| 2.3. Vấn đề về rủi ro các phán quyết của Trọng tài VIAC không được công nhận hoặc bị hủy | 17 |
| CHƯƠNG 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI | 20 |
| 3.1. Bài học kinh nghiệm của Đức | 20 |
| 3.2. Bài học kinh nghiệm của Thụy Sĩ | 22 |
| 3.3. Công ước New York | 23 |
| CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ THẨM QUYỀN RIÊNG BIỆT CỦA TOÀ ÁN VIỆT NAM VỚI THẨM QUYỀN CỦA TRỌNG TÀI | 26 |
| 4.1. Loại bỏ sự chưa thống nhất trong cách sử dụng từ, thuật ngữ trong Luật Trọng tài thương mại và Bộ luật Tố tụng dân sự | 26 |
| 4.2. Sửa đổi khái niệm về “Trọng tài nước ngoài” | 26 |
| 4.3. Ban hành văn bản hướng dẫn việc áp dụng và giải thích các quy định liên quan đến việc công nhận và cho thi hành phán quyết Trọng tài nước ngoài | 28 |
| 4.4. Bổ sung thêm các quy định về thẩm quyền của Trọng tài trong vụ án dân sự có liên quan đến quyền đối với tài sản là bất động sản | 29 |
| 4.5. Tăng cường sự phối hợp giữa Bộ Tư pháp, Tòa án Việt Nam với các cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài | 30 |
| 4.6. Tăng cường sự hợp các quốc tế giữa Việt Nam đối nước các nước thực thi thẩm quyền riêng biệt của Tòa án đối với thẩm quyền của Trọng tài | 31 |
| 4.7. Tăng cường đầu tư nguồn lực về cơ sở vật chất và công nghệ cho các Tòa án và Trọng tài thương mại Việt Nam | 32 |
| KẾT LUẬN | 33 |
| LỜI CẢM ƠN | 35 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 36 |
LỜI MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Trong xu thế hội nhập với thế giới và giao lưu dân sự quốc tế, việc các cá nhân, pháp nhân, tổ chức của Việt Nam có quan hệ kinh doanh, thương mại với các cá nhân, pháp nhân, tổ chức của nước ngoài đang dần dần trở thành những quan hệ phổ biến và ngày càng phát triển đa dạng, phong phú. Đồng nghĩa với đó là các vụ án dân sự, việc dân sự có yếu tố nước ngoài phát sinh ngày càng nhiều, với tính chất và mức độ ngày càng phức tạp trong điều kiện Việt Nam thực hiện công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế. Đây là yếu tố khách quan đòi hỏi phải có cơ chế hữu hiệu về mặt pháp lí và những vấn đề liên quan đến thẩm quyền của Tòa án đối với các vụ án dân sự, việc dân sự có yếu tố nước ngoài để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi tham gia vào các quan hệ tố tụng dân sự có yếu tố nước ngoài tại các cơ quan tài phán của nước mình, là vấn đề hết sức quan trọng và có ý nghĩa to lớn trong thời đại ngày nay.
Bên cạnh đó, giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án và Trọng tài thương mại là hai phương thức giải quyết tranh chấp mang tính tài phán, cùng song hành tồn tại trong nền kinh tế thị trường. Hai phương thức này có nhiều điểm giống nhau nhưng cũng có nhiều điểm khác nhau. Điểm khác nhau cơ bản thể hiện ở chỗ Tòa án là cơ quan tư pháp do Nhà nước thành lập, thực hiện quyền tư pháp với vai trò là cơ quan tài phán công. Trong khi đó, Trọng tài thương mại không phải là cơ quan tài phán công mà do các bên thỏa thuận lựa chọn và các bên đưa tranh chấp cho Hội đồng Trọng tài để giải quyết. Chính vì vậy, trong việc giải quyết tranh chấp thương mại tại Trọng tài thương mại, theo quy định của pháp luật, thẩm quyền của Trọng tài thương mại bị giới hạn, đặc biệt là giới hạn trong vấn đề công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài trong các vụ án dân sự, việc dân sự có yếu tố nước ngoài. Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã nêu rõ thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam đối với những vụ án dân sự, việc dân sự có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên cần phân định rạch ròi giữa thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam với thẩm quyền của Trọng tài thương mại, liệu thẩm quyền của Tòa án Việt Nam tại khoản 1 Điều 470 quy định về 3 trường hợp có loại trừ thẩm quyền của Trọng tài hay không?
Mặc dù trong thời gian qua, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực để hoàn thiện hệ thống pháp luật về thẩm quyền của Tòa án đối với các vụ án dân sự, việc dân sự có yếu tố nước ngoài, cũng như ký kết Hiệp định tương trợ và hợp tác trên các lĩnh vực dân sự, đầu tư với các nước, tham gia các Điều ước quốc tế để giải quyết các vấn đề trên đã đem lại nhiều thuận lợi hơn trong công tác giải quyết các vụ án dân sự, việc dân sự có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, do chưa có cách hiểu đầy đủ, thống nhất về các quy định của pháp luật trong nước nên các thủ tục công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài tại Tòa án còn chưa thực sự nhất quán để tạo sự tin tưởng của các nhà đầu tư. Bên cạnh đó là vướng mắc từ pháp luật chưa phù hợp, dẫn đến việc áp dụng không đạt được tính thuyết phục, hướng dẫn của ngành không thống nhất, quan điểm giải quyết không thống nhất giữa các cấp, các quy định về mối quan hệ giữa thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam với thẩm quyền của Trọng tài còn sơ sài, gây nhầm lẫn, chồng chéo, mặc dù năm 2011 Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung và hiện nay được thay thế bằng Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhưng các quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự, việc dân sự của Tòa án và Trọng tài vẫn chưa được khắc phục.
Thấy được tính cấp thiết cũng như tầm quan trọng của vấn đề này, em quyết định chọn đề tài: “Mối quan hệ giữa thẩm quyền riêng biệt của Toà án Việt Nam với thẩm quyền của Trọng tài” để đi sâu nghiên cứu.
2. Mục đích và phương pháp nghiên cứu
– Mục đích nghiên cứu: Đưa ra những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam với thẩm quyền của Trọng tài; Phân tích, đánh giá những vấn đề trong quy định của Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Làm rõ ví dụ thực tế đối với Việt Nam về tranh chấp bất động sản quy định tại điểm a khoản 1 Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Rút ra bài học kinh nghiệm thông qua việc liên hệ với một số quốc gia trên thế giới; Trên cơ sở nghiên cứu, đề xuất những kiến nghị và giải pháp có tính khả thi nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật dân sự điều chỉnh về thẩm quyền của hai bên cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của pháp luật về vấn đề này.
– Phương pháp nghiên cứu: Để đạt được mục đích trên, bài luận đã tổng hợp, thống nhất, đúc kết và mở rộng những kiến thức đã tích lũy trong suốt quá trình học tập, kết hợp giữa việc tổng hợp sách báo, tài liệu với việc đi sâu vào phân tích thực tiễn, tham khảo ý kiến, sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như phương pháp lịch sử, xã hội học, thu thập số liệu thống kê, tổng hợp và so sánh, phân tích, đánh giá, kết hợp với các phương pháp tư duy logic, phương pháp phân tích số liệu và phương pháp biện chứng nhằm tìm ra hướng đi hợp lý và hiệu quả nhất.
3. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung bài luận gồm 4 chương cụ thể như sau:
Chương 1. Những vấn đề lý luận cơ bản
Chương 2. Phân tích những vấn đề trong quy định của Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
Chương 3. Bài học kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới
Chương 4. Giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật điều chỉnh về thẩm quyền riêng biệt của Toà án Việt Nam với thẩm quyền của Trọng tài.
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, định nghĩa cụ thể như sau: Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài được hiểu là vụ việc dân sự có ít nhất một trong các đương sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài, các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài; các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.
Có thể hiểu đơn giản vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài như sau:
– Vụ việc dân sự là các vụ án dân sự và các việc dân sự.
Trong đó ta hiểu vụ án dân sự là: về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động,… Còn việc dân sự là: các yêu cầu để Tòa án giải quyết các việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động,…
– Đối với yếu tố nước ngoài trong vụ việc dân sự được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 464 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Theo đó, Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là vụ việc dân sự thuộc một trong các trường hợp cụ thể sau đây:
+ Trường hợp thứ nhất: Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài.
+ Trường hợp thứ hai: Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài.
+ Trường hợp thứ ba: Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.
Phương thức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án và Trọng tài
Trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp trong đó các bên đồng ý rằng một bên thứ ba trung lập (Trọng tài viên hay Hội đồng Trọng tài) sẽ ban hành một quyết định có căn cứ pháp lý sau khi các bên đã có cơ hội trình bày vụ tranh chấp của mình[1]. Trọng tài là một phương thức thay thế cho tố tụng tại Tòa án, nhưng giống như tố tụng tại Tòa án, quyết định (phán quyết) được ban hành trong tố tụng Trọng tài có tính chất ràng buộc các bên giống như quyết định do Thẩm phán Tòa án đưa ra. Vì Trọng tài tách khỏi hệ thống công quyền truyền thống, các bên phải lựa chọn Trọng tài một cách rõ ràng.
Vai trò của Tòa án trong tố tụng Trọng tài bị giới hạn. Tòa án chỉ can thiệp vào quá trình tố tụng Trọng tài theo quy định của Luật Trọng tài thương mại. Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận Trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận Trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận Trọng tài không thể thực hiện được. Trong trường hợp Tòa án đã thụ lý mà phát hiện các bên có thỏa thuận Trọng tài thì phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án để các bên khởi kiện ra Trọng tài, trừ trường hợp thoả thuận Trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận Trọng tài không thể thực hiện được. Tòa án nhiều nước, như tại Singapore, Hồng Kông, Pháp, Anh, Thụy Sỹ, Mỹ, thường ủng hộ Trọng tài và cố gắng bảo đảm tố tụng Trọng tài được tiến hành. Khi phán quyết được Hội đồng Trọng tài ban hành, Tòa án có thể cho thi hành phán quyết, hoặc trong một số trường hợp, xem xét những vi phạm về thủ tục có thể làm cho phán quyết bị hủy.
Thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam
Thẩm quyền: Là quyền xem xét để kết luận và định đoạt một vấn đề theo pháp luật. Theo đó, thẩm quyền được hiểu theo nghĩa chung nhất là quyền của một tổ chức, cá nhân tự mình nhìn nhận, đánh giá sự việc và đưa ra phán quyết để giải quyết một vấn đề nào đó phù hợp với quy định của pháp luật. Về mặt pháp lý, theo từ điển Luật học thì: “Thẩm quyền là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ hành động, quyết định của các cơ quan, tổ chức thuộc bộ máy Nhà nước do luật pháp quy định.”
Thẩm quyền xét xử riêng biệt: Là việc quốc gia sở tại tuyên bố chỉ có Tòa án nước họ mới có thẩm quyền xét xử đối với một số vụ án nhất định. Thông thường đó là những vụ án liên quan đến an ninh trật tự, lợi ích xã hội, lợi ích nhân thân của công dân. Các vụ án thuộc thẩm quyền xét xử riêng biệt của Tòa án Việt Nam được quy định tại Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Về nguyên tắc, các vụ án thuộc thẩm quyền xét xử riêng biệt của Tòa án Việt Nam nếu Tòa án quốc gia khác xét xử và ra phán quyết thì phán quyết đó không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam.
Thẩm quyền của Trọng tài thương mại trong nước và nước ngoài
Thương mại: Trong lĩnh vực Trọng tài, không có một định nghĩa chặt chẽ nào cho thuật ngữ “thương mại” ở cấp độ quốc tế. Luật mẫu UNCITRAL cho rằng thuật ngữ “thương mại” phải được giải thích rộng, bao gồm những vấn đề phát sinh từ tất cả các quan hệ mang bản chất thương mại, cho dù có hợp đồng hay không có hợp đồng. Mối quan hệ mang bản chất thương mại đó bao gồm, nhưng không giới hạn bởi, những giao dịch sau đây: bất kỳ giao dịch buôn bán nào cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại; sản xuất; cho thuê; xây dựng công trình; tư vấn; công nghệ; cấp li-xăng; đầu tư; tài chính; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận hoặc nhượng quyền khai thác; liên doanh và các hình thức hợp tác kinh doanh hoặc công nghiệp khác; vận chuyển hàng hóa và hành khách đường không, đường biển, đường sắt hoặc đường bộ. Ở Việt Nam, theo quy định tại Điều 3 khoản 1 Luật Thương mại năm 2005, “hoạt động thương mại” bao gồm tất cả các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm: mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.
Trọng tài trong nước: Mặc dù không có định nghĩa về Trọng tài trong nước trong Luật Trọng tài thương mại, nhưng có thể suy ra từ định nghĩa “Trọng tài nước ngoài” trong Luật Trọng tài thương mại rằng Trọng tài thương mại trong nước nói tới những trường hợp mà địa điểm giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài tại Việt Nam và do:
(i) Một tổ chức Trọng tài được thành lập theo pháp luật Việt Nam tiến hành và theo thủ tục tố tụng Trọng tài được quy định trong Luật Trọng tài thương mại; hoặc
(ii) Trọng tài vụ việc tiến hành theo Luật Trọng tài thương mại.
Trọng tài nước ngoài: Trọng tài nước ngoài là Trọng tài được thành lập theo quy định của pháp luật Trọng tài nước ngoài do các bên thỏa thuận lựa chọn để tiến hành giải quyết tranh chấp ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ Việt Nam.
Phán quyết Trọng tài nước ngoài: Theo Điều I khoản 1 Công ước New York, phán quyết Trọng tài nước ngoài là các “phán quyết Trọng tài được ban hành trên lãnh thổ của quốc gia không phải là quốc gia được yêu cầu công nhận và cho thi hành” và các phán quyết Trọng tài “không được coi là phán quyết Trọng tài trong nước tại quốc gia được yêu cầu công nhận và cho thi hành”.
Như vậy, theo Điều 424 khoản 3 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Điều 3 khoản 11 và Điều 3 khoản 12 Luật Trọng tài thương mại, một vụ tranh chấp tại Trọng tài được coi là Trọng tài “nước ngoài” theo luật Việt Nam và phán quyết do Hội đồng Trọng tài ban hành được coi là “phán quyết nước ngoài” theo pháp luật Việt Nam trong những trường hợp sau, bất kể địa điểm giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài là bên trong hay bên ngoài lãnh thổ Việt Nam (Điều 3 khoản 11 Luật Trọng tài thương mại):
(i) Khi thủ tục tố tụng Trọng tài được điều chỉnh bởi pháp luật Trọng tài nước ngoài; hoặc
(ii) Vụ tranh chấp được giải quyết tại một tổ chức Trọng tài nước ngoài được thành lập theo pháp luật Trọng tài nước ngoài.
[1] Từ điển chuyên ngành luật Black’s Law.
