THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Kiểm sát Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 55 trang (cả bìa)
- Năm: 2022 / Mã số: B0157.
- Pháp luật áp dụng: Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| Mục lục | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| PHẦN MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ | 2 |
| 1.1. Khái niệm và đặc điểm của nguyên tắc Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong Tố tụng dân sự | 2 |
| 1.1.1. Khái niệm của nguyên tắc Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong Tố tụng dân sự | 2 |
| 1.1.2. Đặc điểm của nguyên tắc Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự | 4 |
| 1.2. Nội dung nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành | 5 |
| 1.2.1. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại Toà án cấp sơ thẩm | 5 |
| 1.2.2. Kiểm sát các hoạt động tại tòa án cấp phúc thẩm và thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm | 17 |
| 1.2.3. Thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị | 26 |
| CHƯƠNG II: NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN VỀ NGUYÊN TẮC KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ | 29 |
| 2.1. Thực trạng về nguyên tắc Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự | 29 |
| 2.2. Một số khó khăn, vướng mắc về nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự | 30 |
| 2.3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và đảm bảo thực hiện có hiệu quả về nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự | 33 |
| KẾT LUẬN | 39 |
| PHỤ LỤC | 41 |
| PHỤ LỤC 1. CƠ SỞ CỦA NGUYÊN TẮC KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ | 41 |
| 1. Cơ sở lý luận của nguyên tắc Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong Tố tụng dân sự | 41 |
| 2. Cơ sở thực tiễn của nguyên tắc Kiểm sát việc tuân theo pháp luật Tố tụng dân sự | 41 |
| PHỤ LỤC 2. | 43 |
| PHỤ LỤC 3. KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TẠI TOÀ ÁN CẤP PHÚC THẨM | 44 |
| 1. Kiểm sát hoạt động trước phiên tòa dân sự phúc thẩm | 44 |
| 2. Kiểm sát hoạt động tại phiên tòa dân sự phúc thẩm | 46 |
| 3. Kiểm sát hoạt động sau phiên toà dân sự phúc thẩm | 48 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 49 |
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta không ngừng đổi mới, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phấn đấu vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Để thực hiện mục tiêu đó, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc cải cách tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp, trong đó có Viện kiểm sát nhân dân (VKSND). VKSND được thành lập để đại diện cho Nhà nước trong lĩnh vực duy trì và bảo vệ sự nghiêm minh của pháp luật Bên cạnh đó, VKSND có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm pháp chế thống nhất, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước giao phó trong mỗi giai đoạn cách mạng của đất nước. VKSND Việt Nam được thành lập từ năm 1960, cho đến nay đã trải qua hơn 60 năm tồn tại, trưởng thành, phát triển và thực hiện được nhiều nhiệm vụ quan trọng, trong đó có thể nhắc đến nhiệm vụ Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong Tố tụng dân sự (TTDS). Trải qua các giai đoạn phát triển của đất nước, vị trí, vai trò của Viện kiểm sát (VKS) trong TTDS được ghi nhận ở từng mức độ khác nhau, từ việc quy định những quyền hạn cụ thể của VKS trong Luật Tổ chức VKSND năm 2014; trong TTDS rải rác ở các văn bản pháp luật và các văn bản hướng dẫn thi hành đến việc khẳng định, ghi nhận Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS là một trong những nguyên tắc cơ bản của TTDS và là cơ sở để quy định trách nhiệm, thẩm quyền cụ thể của VKSND trong TTDS. Bên cạnh đó, VKSND phải thực hiện có hiệu quả và tốt hơn chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp, thì việc nghiên cứu để làm rõ cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, nội dung của nguyên tắc Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS và thực tiễn thực hiện nguyên tắc, trên cơ sở đó đề xuất các kiến nghị tiếp tục hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc này trong TTDS là rất cần thiết, có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn.
Với những lý do trên, tác giả xin được chọn đề tài “Nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự – những vấn đề lý luận và thực tiễn” để làm bài kiểm tra kết thúc học phần môn Luật Tố tụng dân sự.
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1. Khái niệm và đặc điểm của nguyên tắc Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong Tố tụng dân sự
1.1.1. Khái niệm của nguyên tắc Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong Tố tụng dân sự
Nguyên tắc cơ bản của Luật TTDS Việt Nam là một khái niệm rộng bao hàm nhiều mặt khác nhau và phải đứng trên quan điểm toàn diện để nhận thức nó. Theo Giáo trình Luật TTDS của trường Đại học Luật Hà Nội thì: “Nguyên tắc của luật TTDS là những tư tưởng pháp lí chỉ đạo, định hướng cho việc xây dựng và thực hiện pháp luật TTDS và được ghi nhận trong các văn bản pháp luật TTDS”[18]. Như vậy, các nguyên tắc cơ bản của Luật TTDS là những quy phạm chỉ đạo, mang tính chất cơ sở cho toàn bộ quy trình TTDS. Nội dung của các quy phạm này được thể hiện trong toàn bộ các quy phạm của pháp luật TTDS và cũng chính vì vậy các nguyên tắc cơ bản của Luật TTDS quyết định toàn bộ kết cấu của quy trình TTDS. Các nguyên tắc cơ bản trong luật TTDS vừa mang tính chất chủ quan đồng thời lại là sự phản ánh những quy luật khách quan. Các nguyên tắc thể hiện tính chủ quan bởi đó là những tư tưởng do con người đặt ra, làm cơ sở cho việc ban hành, xây dựng và thực hiện pháp luật. Mặt khác, các nguyên tắc trong TTDS cũng phản ánh những quy luật chung của đời sống xã hội. Các điều kiện về kinh tế, xã hội sẽ quyết định sự hình thành và phát triển các nguyên tắc pháp luật nói chung, trong đó có các nguyên tắc trong TTDS.
Các nguyên tắc cơ bản của Luật TTDS từ trước đến nay đều được ghi nhận trong BLTTDS thành một chế định riêng biệt (tại Chương II). Tổng cộng, BLTTDS năm 2015 quy định 23 nguyên tắc cơ bản của Luật TTDS Việt Nam, từ Điều 3 đến Điều 25. Trong số 23 nguyên tắc cơ bản, nguyên tắc Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS được quy định tại Điều 21 BLTTDS. Quy định này đã khẳng định VKSND là cơ quan chịu trách nhiệm Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS; các hoạt động TTDS của những người tiến hành TTDS và những người tham gia TTDS là đối tượng của hoạt động kiểm sát của VKSND. Cụ thể hóa nguyên tắc này, BLTTDS cũng đã có những quy định cụ thể về trách nhiệm, thẩm quyền của VKSND trong TTDS.
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS là giám sát, kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ đối với hành vi của các chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng, đối với văn bản áp dụng pháp luật giải quyết vụ việc dân sự của chủ thể tiến hành tố tụng và đó là hình thức thực hiện quyền lực Nhà nước, một trong những hoạt động thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKSND. Mục đích của hoạt động Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS là nhằm bảo đảm cho các hành vi xử sự của các chủ thể tiến hành, tham gia tố tụng và văn bản áp dụng pháp luật giải quyết vụ việc dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật. Nội dung hoạt động Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS là việc VKSND sử dụng các biện pháp, quyền năng pháp lý do BLTTDS quy định để kịp thời phát hiện và loại bỏ vi phạm, tiêu cực của cơ quan, người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng, nhằm bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chinh và thống nhất, bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Từ đó ta có thể hiểu: Nguyên tắc Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS là tư tưởng chỉ đạo, xuyên suốt trong quá trình TTDS; là cơ chế pháp lý (kiểm tra, giám sát) do chủ thể VKSND thực hiện thông qua việc sử dụng các biện pháp, quyển năng pháp lý do pháp luật TTDS quy định để ngăn ngừa, phát hiện và loại bỏ vi phạm, tiêu cực của cơ quan, người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự nhanh chóng, kịp thời và đúng quy định của pháp luật, bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.
1.1.2. Đặc điểm của nguyên tắc Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự
Một là, tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt quá trình giải quyết các vụ việc dân sự. Quá trình tố tụng kéo dài từ khi toà án thụ lý vụ việc dân sự cho đến khi có phán quyết giải quyết hoặc chấm dứt tranh chấp. Quá trình này đòi hỏi phải có cơ chế pháp lý (kiểm tra, giám sát) bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật. Vì vậy, nguyên tắc Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS là một trong những nguyên tắc chỉ đạo cho hầu hết các giai đoạn, hành vi tố tụng; được xây dựng dựa trên chức năng “kiểm sát hoạt động tư pháp” của VKSND trong TTDS.
Hai là, được ghi nhận và thể hiện thông qua các quy phạm của pháp luật TTDS. Đối với nguyên tắc Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS, nhà làm luật sẽ tiến hành xây dựng những chế định và điều khoản để cụ thể hóa nguyên tắc này, để việc Kiểm sát việc tuân theo pháp luật được thể hiện xuyên suốt quá trình giải quyết các vụ việc dân sự. Những quy định của phần nội dung cụ thể hoặc những văn bản hướng dẫn có hiệu lực pháp luật thấp hơn không được trái với nguyên tắc này. Nếu trái thì những văn bản đó sẽ bị bãi bỏ hoặc Tòa án mặc nhiên không áp dụng.
Ba là, cơ chế pháp lý (kiểm tra, giám sát trong TTDS) do chủ thể VKSND thực hiện. VKSND là cơ quan thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự. Chức năng này được Nhà nước trao quyền cho VKSND thực hiện và được ghi nhận trong các bản Hiến pháp, các Luật Tổ chức VKSND đồng thời được cụ thể hóa trong BLTTDS. Từ đó, Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết các vụ việc dân sự là tất yếu khách quan, nhằm đảm bảo pháp chế thống nhất, nhằm kịp thời phát hiện, xử lý vi phạm trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự để đảm bảo lợi ích của Nhà nước, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên trong quan hệ dân sự.
Bốn là, sử dụng các biện pháp, quyền năng pháp lý do BLTTDS quy định để ngăn ngừa, phát hiện và loại bỏ vi phạm, tiêu cực của cơ quan, người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng. Khi thực hiện chức năng Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động giải quyết vụ việc dân sự của TAND, VKSND có nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sát thông bảo, quyết định và các văn bản có liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án; kiểm sát việc chuyển giao các loại văn bản trên của Tòa án có đúng quy định của BLTTDS hay không… Qua đó góp phần hoàn thiện, hạn chế những tiêu cực, sai sót trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án, đồng thời góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng khi giải quyết các vụ việc dân sự.
Năm là, giải quyết vụ việc dân sự đúng pháp luật, bảo đảm công bằng và bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án dân sự giúp phát hiện ra các vi phạm, sai lầm trong tố tụng, các phán quyết của Tòa án từ đó kiến nghị, kháng nghị để giúp Tòa án nhận ra các sai lầm mắc phải và khắc phục các sai lầm đó. Việc kiểm tra, giám sát làm cho Tòa án phải có ý thức thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, từ đó bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Tuy nhiên, VKSND với chức năng của mình Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các thủ tục, phán quyết đó giúp bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, giúp việc thực thi pháp luật được chính xác, bảo vệ trật tự công cộng trong hoạt động của cơ quan nhà nước.
1.2. Nội dung nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành
1.2.1. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại Toà án cấp sơ thẩm
1.2.1.1. Kiểm sát hoạt động trước phiên tòa dân sự sơ thẩm
Thứ nhất; Kiểm sát quyết định đưa vụ án ra xét xử
Một là, kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định, bao gồm: Hình thức của quyết định theo mẫu do Tòa án nhân dân tối cao ban hành; thẩm quyền ra quyết định, thời hạn ra quyết định theo quy định tại khoản 3 Điều 203 BLTTDS 2015; việc gửi quyết định, nội dung quyết định theo quy định tại Điều 220 BLTTDS 2015; vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục thông thường hay rút gọn; xem xét quan hệ pháp luật tranh chấp mà tòa án đã xác định đúng hay không. Trường hợp vụ án được xét xử kín, cần xem xét có đảm bảo theo quy định tại khoản 2 Điều 15 BLTTDS năm 2015.
Hai là, đối với những vụ án sau khi thụ lý vụ án, Tòa án thụ lý yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc thụ lý yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính từ ngày Tòa án thụ lý yêu cầu của đương sự sau cùng. Trường hợp bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải nộp tiền tạm ứng án phí thì ngày thụ lý vụ án là ngày bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí. Trường hợp bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí, án phí thì ngày thụ lý vụ án là ngày Tòa án nhận được đơn về yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo. Trường hợp phát hiện Tòa án vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử, người được phân công nghiên cứu hồ sơ vụ án tổng hợp báo cáo Lãnh đạo Viện kiểm sát kiến nghị với Tòa án.
Ba là, đối với vụ án dân sự được đưa ra xét xử theo thủ tục rút gọn, người nghiên cứu hồ sơ cần kiểm tra các điều kiện để Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn được quy định tại các khoản 1 và 2 Điều 317 BLTTDS năm 2015. Trường hợp phát hiện Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn không đúng với quy định trên thì báo cáo Lãnh đạo VKS để kiến nghị Tòa án chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường theo quy định tại các khoản 3 và 4 Điều 317 BLTTDS năm 2015.
Tư là, trường hợp phát hiện thành viên Hội đồng xét xử hoặc Thư ký tòa án thuộc trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi theo quy định tại các điều 52, 53 và 54 BLTTDS năm 2015 thì người nghiên cứu hồ sơ vụ án báo cáo Lãnh đạo Viện kiểm sát yêu cầu Chánh án Tòa án cùng cấp thay đổi thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 56 BLTTDS năm 2015. Trường hợp phát hiện phải thay đổi, bổ sung người phiên dịch, người giám định thì báo cáo Lãnh đạo Viện kiểm sát yêu cầu thay đổi theo quy định tại khoản 1 Điều 84 BLTTDS năm 2015. Trường hợp Tòa án không thực hiện yêu cầu của VKS thì KSV vẫn phải tham gia phiên tòa và phát biểu về vi phạm tố tụng.
Thứ hai; Kiểm sát hoạt động thụ lý vụ án dân sự
Quyền khởi kiện vụ án dân sự hay yêu cầu giải quyết việc dân sự là quyền tố tụng quan trọng của các chủ thể để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Toà án.
Căn cứ các điều 35, 36, 37, 38, 39, 40 và Điều 184 BLTTDS năm 2015, kiểm sát về thẩm quyền giải quyết vụ án của Tòa án, thời hiệu khởi kiện, điều kiện khởi kiện,việc nộp tạm ứng án phí, tư cách pháp lý và xác định tư cách tham gia tố tụng của người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những nội dung khác. Khi kiểm sát cần chú ý xem xét những vấn đề sau:
Một là, hình thức và nội dung đơn khởi kiện phải tuân thủ quy định tại Điều 189 BLTTDS năm 2015, hình thức đơn khởi kiện theo mẫu do Tòa án nhân dân tối cao ban hành; phạm vi khởi kiện theo quy định tại Điều 188 BLTTDS năm 2015, làm rõ yêu cầu khởi kiện, xác định tính hợp pháp của việc khởi kiện, trong đó cần xác định người khởi kiện có quyền hay không có quyền khởi kiện.
Hai là, xác định nguyên đơn, bị đơn là cá nhân hay cơ quan, tổ chức. Nếu người khởi kiện là cá nhân phải đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Điều 69 BLTTDS năm 2015. Trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự thì thực hiện quyền, nghĩa vụ của người khởi kiện thông qua người đại diện theo pháp luật. Nếu cơ quan, tổ chức khởi kiện phải thông qua người đại diện theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, việc ủy quyền khởi kiện phải làm thành văn bản, trong đó nêu cụ thể nội dung ủy quyền, phạm vi ủy quyền, thời gian ủy quyền theo quy định của pháp luật.
Ba là, trường hợp Tòa án thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn, kiểm tra các điều kiện để Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn được quy định tại các khoản 1 và 2 Điều 317 BLTTDS năm 2015.
Tư là, xác định những quan hệ pháp luật có tranh chấp của đương sự, xem xét những quan hệ pháp luật đó có thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 BLTTDS năm 2015.
Năm là, xác định thời hiệu khởi kiện phải căn cứ vào Điều 184 BLTTDS năm 2015. Trường hợp có yêu cầu áp dụng thời hiệu thì căn cứ vào quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện đối với quan hệ pháp luật cụ thể đó để xác định vụ án còn thời hiệu khởi kiện hay đã hết thời hiệu khởi kiện. Chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án. Khi kiểm sát thời hiệu khởi kiện cần chú ý các quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 103/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội về việc thi hành BLTTDS; các khoản 1, 3 và 4 Điều 4 Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP ngày 30/6/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn tố về việc thi hành Bộ luật tố tụng dân sự.
Sáu là, xác định thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án đúng theo quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32; các điều từ Điều 35 đến Điều 40 BLTTDS năm. Trường hợp phát hiện Tòa án thụ lý không đúng thẩm quyền thì báo cáo cho KSV tham gia phiên tòa để KSV báo cáo lại cho Lãnh đạo VKS ban hành văn bản chuyển trả hồ sơ vụ án cho Tòa án đề Tòa án chuyển vụ án cho Tòa án có thẩm quyền.
Bảy là, qua kiểm sát việc thụ lý, nếu phát hiện vi phạm của Tòa án thì tổng hợp, báo cáo Lãnh đạo VKS kiến nghị Tòa án khắc phục vi phạm theo quy định.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
https://shop.tieuluannganhluat.com/san-pham/nguyen-tac-kiem-sat-viec-tuan-theo-phap-luat-trong-to-tung-dan-su-2/
[xyz-ihs snippet=”B0157″]
