THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Kinh tế Luật
- Định dạng: WORD
- Số trang: 19 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0084.
- Văn bản áp dụng: Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| PHẦN I. MỞ ĐẦU | 1 |
| 1. Lý do chọn đề tài | 1 |
| 2. Mục tiêu nghiên cứu | 1 |
| 3. Phạm vi nghiên cứu | 2 |
| 4. Phương pháp nghiên cứu | 2 |
| 5. Kết cấu của Tiểu luận | 2 |
| PHẦN II. NỘI DUNG | 3 |
| CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA NGUYÊN TẮC NGƯỜI GÂY Ô NHIỄM PHẢI TRẢ TIỀN (PPP) | 3 |
| 1.1. Lịch sử hình thành của nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả | 3 |
| 1.2. Nội dung nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả | 4 |
| 1.3. Mục đích và yêu cầu của nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả | 5 |
| 1.4. Yêu cầu của nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả | 6 |
| 1.5. Mối liên hệ giữa nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả với các nguyên tắc khác của Luật bảo vệ môi trường | 7 |
| 1.5.1. Mối liên hệ giữa PPP và nguyên tắc Nhà nước ghi nhận và đảm bảo quyền con người được sống trong môi trường trong lành | 7 |
| 1.5.2. Mối liên hệ giữa PPP và nguyên tắc phòng ngừa | 7 |
| 1.5.3. Mối liên hệ giữa PPP và nguyên tắc môi trường là một thể thống nhất | 8 |
| 1.5.4. Mối liên hệ giữa PPP và nguyên tắc phát triển bền vững | 8 |
| CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN NGUYÊN TẮC NGƯỜI GÂY Ô NHIỄM PHẢI TRẢ TIỀN (PPP) TRONG LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 2020 | 9 |
| 2.1. Sự thể hiện của nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả thông qua pháp luật về thuế, phí bảo vệ môi trường | 9 |
| 2.1.1. Thuế bảo vệ môi trường | 9 |
| 2.1.2. Phí bảo vệ môi trường | 10 |
| 2.2. Sự thể hiện của nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả thông qua một số hoạt động khác | 11 |
| CHƯƠNG 3: NHỮNG KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PPP TRONG PHÁP LUẬT MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM | 13 |
| PHẦN III. KẾT LUẬN | 15 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 16 |
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Vấn đề môi trường là mối quan tâm hàng đầu đối với sự phát triển bền vững của hầu hết các quốc gia. Con người đã có nhận thức rõ hơn về việc: hoạt động sản xuất của kinh tế thế giới đang gây ô nhiễm cho môi trường nghiêm trọng, tác động tiêu cực đến điều kiện sống của toàn nhân loại. Lúc này, nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền (Polluter Pays Principle) được xem là một nguyên tắc thể hiện việc áp dụng công cụ kinh tế để quản lý và giải quyết các vấn đề về môi trường.
Trong tổng thể sự phát triển bền vững của một quốc gia, chính sách môi trường và chính sách kinh tế có mối quan hệ mật thiết với nhau. Hiện nay, nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền được nhiều quốc gia sử dụng và trở thành một công cụ chính thức để kiểm soát các hoạt động ảnh hưởng xấu tới môi trường của các chủ thể. Việt Nam đang nỗ lực phát triển theo hướng đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế gắn liền với các mục tiêu phát triển bền vững về kinh tế – xã hội – môi trường. Hướng tới sự bền vững về môi trường, quá trình điều chỉnh, sửa đổi chính sách về bảo vệ môi trường ở Việt Nam đã và đang vận dụng Nguyên tắc người gây ô nhiễm trả tiền như là một hướng tiếp cận quan trọng.
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu những vấn đề lý luận của nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền cũng như sự thể hiện của nguyên tắc này trong Luật bảo vệ môi trường 2020 của nước ta là cần thiết. Chính vì lý do đó, tác giả chọn đề tài: “Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền (PPP) và sự thể hiện của nguyên tắc này trong Luật Bảo vệ môi trường 2020”
2. Mục tiêu nghiên cứu
Tiểu luận nhằm tìm hiểu sự hình thành, cơ sở lý luận của nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả (PPP). Từ đó, đối chiếu với Luật Bảo vệ môi trường 2020 để chỉ ra và phân tích những quy định có thể hiện nội dung, tinh thần của nguyên tắc này. Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra góc nhìn từ thực tế áp dụng, thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền tại Việt Nam. Nêu ra một số những vướng mắc, khó khăn trên thực tế và đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn những quy định liên quan đến nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả trong Pháp luật bảo vệ môi trường.
3. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ nội dung nghiên cứu của Tiểu luận, tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu là các nội dung được quy định trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Đồng thời, để có cái nhìn bao quát hơn, tác giả cũng có sự khai thác một số văn bản quốc tế có đề cập đến nguyên tắc PPP.
4. Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu luật học như: Phương pháp phân tích, phương pháp lịch sử,…
5. Kết cấu của Tiểu luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Nội dung tiểu luận được chia làm 03 chương:
– Chương 1: Những vấn đề lý luận của nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả (PPP)
– Chương 2: Sự thể hiện của nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả (ppp) trong luật bảo vệ môi trường 2020
– Chương 3: Thực tiễn thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tại việt nam, những khó khăn và kiến nghị
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA NGUYÊN TẮC NGƯỜI GÂY Ô NHIỄM PHẢI TRẢ TIỀN (PPP)
1.1. Lịch sử hình thành của nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả
Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả – The Polluter Pays Principle (sau đây gọi tắt là: “PPP”) được nhắc đến lần đầu tiên trong các văn bản do Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (Organisation for Economic Co- Operatinon and Development), viết tắt là OECE. Tổ chức này đã có những bước xây dựng, phát triển và đề xuất đối với PPP trong những năm 1970- 1974[1]. Năm 1972 OECD đã đề cập đến nguyên tắc PPP trong hướng dẫn liên quan đến khía cạnh kinh tế quốc tể của chính sách môi trường như sau: “Nguyên tắc được sử dụng để phân bổ chi phí của công tác phòng chống ô nhiễm và chi phí cho các biện pháp kiểm soát ô nhiễm để khuyến khích sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên khan hiếm, giảm thiểu ô nhiễm về môi trường và để tránh biến dạng trong thương mại và đầu tư quốc tế là gây ô nhiễm phải trả.”
Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả ra đời xuất phát từ quan điểm cho rằng: môi trường là một loại hàng hóa đặc biệt. Khi khai thác, sử dụng môi trường thì các chủ thể phải trả tiền. Nhà nước đứng ra để bán quyền tác động đó. Môi trường đáp ứng yêu cầu của những người gây ô nhiễm về số lượng và chất lượng, do đó môi trường có giá trị sử dụng. Giá trị của môi trường được tạo ra bởi các chi phí cho việc khắc phục, cải thiện nó. Vì thế môi trường cũng là hàng hóa, nhưng là một loại hàng hóa đặc biệt, vì môi trường mang tính cộng đồng, mọi người đều khai thác, sử dụng. Các chủ thể phải trả tiền khi có hành vi khai thác, sử dụng các yếu tố môi trường (tiền bỏ ra để mua quyền khai thác, sử dụng, quyền tác động đến môi trường). Người được hưởng lợi từ việc trả giá này là toàn thể cộng đồng và nhà nước đại diện đứng ra thu tiền và sử dụng tiền để tiếp tục đảm bảo việc bảo vệ môi trường (BVMT).
Những năm sau này, cùng với sự hưởng ứng của nhiều nhà nghiên cứu, tổ chức và quốc gia trên thế giới, nguyên tắc PPP được tiếp tục phát triển và được sự đồng tình của nhiều quốc gia và khu vực. Liên tiếp các hội nghị, diễn đàn về môi trường được tổ chức, thể hiện sự quan tâm nghiêm túc của các quốc gia trên thế giới về vấn đề môi trường. Năm 1992 tại Rio De Janeiro, Braxin, Nguyên tắc số 16, tuyên bố của hội nghị Liên hiệp quốc tế về Môi trường và Phát triển (UNCED) quy định: “Các nhà chức trách quốc gia nên cố gắng đẩy mạnh sự quốc tế hóa những chi phí môi trường và sự sử dụng các biện pháp kinh tế, căn cứ vào quan điểm cho rằng về nguyên tắc người gây ô nhiễm phải chịu phí tổn ô nhiễm, với sự quan tâm đúng mức đối với quyền lợi chung và không ảnh hưởng xấu đến nền thương mại và đầu tư quốc tế”.[2]
Sau Tuyên bố Rio 1992, PPP tiếp tục được nhắc đến tại Nghị định thư Kyoto năm 1997. Tính đến năm 2011 có khoảng 191 nước ký kết tham gia Nghị định thư, trong số những quốc gia đăng ký gia nhập Nghị định thư Kyoto thì vào năm 2002 Việt Nam chính thức được phê chuẩn trá thành một trong những thành viên thực hiện nội dung của chương trình cắt giảm khí thải, cũng như các nguyên tắc về môi trường theo luật quốc tế. Đây được xem như là một bước hội nhập hóa quốc tế của Việt Nam để điều chỉnh theo xu hướng quốc tế về các vấn đề kinh tế, văn hóa, cũng như xã hội.
Với lịch sử hình thành và phát triển nhanh chóng do sự đồng thuận từ nhiều quốc gia trên thế giới, PPP ngày càng phổ biến và trá thành một trong những công cụ pháp lý quan trọng á mỗi quốc gia, để kiểm soát các hoạt động ảnh hưáng đến môi trường của các chủ thể, việc xây dựng các yếu tố xoay quanh mối quan hệ chặt chẽ giữa các giá trị kinh tế nói chung, cũng như lợi ích, chi phí và thuế phải chi trả nói riêng với các chính sách về môi trường theo nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền ngày càng trá thành xu thế quản lý hoạt động gây nên ô nhiễm môi trường được đánh giá cao về cơ sá thực hiện cũng như kết quả mà nó mang lại.
1.2. Nội dung nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả
Nội dung nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tập trung tác động vào yếu tố kinh tế của chủ thể gây nên hiện trạng ô nhiễm, các chủ thể gây ra sự ô nhiễm môi trường thông qua hoạt động khai thác tài, sử dụng tài nguyên thiên nhiên, cũng như xả thải vào môi trường nước, môi trường không khí,…thì phải chịu chi phí cho việc khắc phục, cải thiện trình trạng môi trường bị ô nhiễm và các chi phí khác liên quan do hành vi khai thác, sử dụng hay xả thải của mình, thì đều phải trả tiền. Xuất phát từ việc xem xét môi trường là một loại hàng hóa đặc biệt, khi các chủ thể tiến hành một hay một số hoạt động nhằm mục đích khai thác, sử dụng loại hàng hóa này thì đều phải trả tiền.
Theo quan điểm của Karl Marx trong Kinh tế chính trị học, hàng hóa là sản phẩm của lao động, thông qua trao đổi, mua bán có thể thỏa mãn một số nhu cầu nhất định của con người, với hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị[3]. Có thể thấy: môi trường là một công cụ thỏa mãn nhu cầu sản xuất, sinh hoạt của con người nên mang giá trị sử dụng, mặt khác các chi phí, biện pháp bỏ ra nhằm cải tạo, nhằm vào môi trường của các chủ thể thì được xem như là thuộc tính giá trị của môi trường. Chính vì vậy, chủ thể thực hiện hoạt động khai thác, sử dụng môi trường thì phải tiến hành chi trả phần tiền tương ứng với hoạt động của mình. Nhà nước với vai trò là chủ thể đại diện cho toàn dân cung ứng, cho phép các chủ thể tiến hành các hoạt động ấy. Mặt khác, Nhà nước đồng thời là chủ thể đại diện cho cộng đồng nhận lại phần tiền mà các cá nhân, tổ chức thực hiện hoạt động có liên quan đến môi trường. Điều này thể hiện môi trường là một loại hàng đặc biệt và nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền là một công cụ kinh tế hữu ích cho việc lưu thông “hàng hóa” môi trường được diễn ra suôn sẻ và đảm bảo các nguyên tắc kinh tế và xã hội.
Trong hệ thống pháp luật môi trường Việt Nam, điển hình là Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 10 khóa XIV, có hiệu lực năm 2021, nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền được thể hiện ở các nội dung liên quan đến vấn đề chi phí hoặc thuế như: chi phí, thuế ngăn ngừa, kiểm soát ô nhiễm cũng như bảo vệ môi trường, chi phí thiệt hại do ô nhiễm, chi phí của cơ quan quản lý nhà nước khi thực thi các quy định quản lý môi trường.
[1] Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, “Thuế bảo vệ môi trường hình thức thực hiện nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” trong pháp luật môi trường”, http://lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=208181, truy cập ngày 28/11/2023.
[2] Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, “Thuế bảo vệ môi trường hình thức thực hiện nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” trong pháp luật môi trường”, http://lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=208181, truy cập ngày 28/11/2023.
[3] (Theo quan điểm của David Ricardo, giá trị sử dụng của hàng hóa là lợi ích và công dụng của hàng hóa thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người; Giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa
