THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 38 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0057.
- Pháp luật áp dụng: Luật Quản lý ngoại thương năm 2017, Hiệp định GATT năm 1994.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| 1. Đặt vấn đề | 1 |
| 2. Mục đích và phương pháp nghiên cứu | 2 |
| 3. Kết cấu đề tài | 3 |
| CHƯƠNG 1: THỐNG KÊ NHỮNG VỤ TRANH CHẤP LIÊN QUAN ĐẾN ĐIỀU VI KHOẢN 2 HIỆP ĐỊNH GATT NĂM 1994 VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU THỐNG KÊ | 4 |
| 1.1. Thống kê những vụ tranh chấp liên quan đến Điều VI khoản 2 Hiệp định GATT năm 1994 | 4 |
| 1.2. Phân tích số liệu thống kê | 6 |
| CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ LIÊN QUAN ĐẾN THỰC TRẠNG ÁP DỤNG ĐIỀU VI KHOẢN 2 HIỆP ĐỊNH GATT NĂM 1994 | 12 |
| 2.1. Tổng quan về thực trạng áp dụng Điều VI khoản 2 Hiệp định GATT năm 1994 | 12 |
| 2.2. Thực trạng áp dụng Điều VI khoản 2 Hiệp định GATT năm 1994 của Hoa Kỳ | 14 |
| 2.3. Thực trạng áp dụng Điều VI khoản 2 Hiệp định GATT năm 1994 của Ấn Độ | 16 |
| 2.4. Thực trạng áp dụng Điều VI khoản 2 Hiệp định GATT năm 1994 của EU | 18 |
| 2.5. Thực trạng áp dụng Điều VI khoản 2 Hiệp định GATT năm 1994 của Việt Nam | 19 |
| CHƯƠNG 3: BÀI HỌC CHO VIỆT NAM | 23 |
| 3.1. Sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về áp dụng thuế chống bán phá giá phù hợp với Điều VI khoản 2 Hiệp định GATT năm 1994 | 23 |
| 3.2. Nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về áp dụng thuế chống bán phá giá theo Điều VI khoản 2 Hiệp định GATT năm 1994 | 27 |
| 3.2.1. Đối với Nhà nước | 27 |
| 3.2.2. Đối với các doanh nghiệp | 29 |
| KẾT LUẬN | 32 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 34 |
LỜI MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Trong xu thế hội nhập với thế giới hiện nay, các tranh chấp thương mại quốc tế về chống bán phá giá ngày càng trở nên phức tạp và phổ biến khi mà thuế chống bán phá giá đang được nhiều quốc gia, trong đó chủ yếu là các nước phát triển, sử dụng như một rào cản trong thương mại và bảo hộ cho ngành sản xuất nội địa. Hầu hết các nước thành viên của WTO đều áp dụng thuế chống bán phá giá theo Điều VI khoản 2 Hiệp định GATT năm 1994. Điều khoản này quy định: “Nhằm triệt tiêu tác dụng hay ngăn ngừa việc bán phá giá, một bên ký kết có thể đánh vào bất cứ một sản phẩm được bán phá giá nào một khoản thuế chống bán phá giá nhưng không lớn hơn biên độ bán phá giá của sản phẩm đó”. Trong thương mại quốc tế, khi hàng hóa bị xem là bán phá giá thì chúng có thể bị áp đặt các biện pháp chống bán phá giá như thuế chống phá giá – là biện pháp được sử dụng nhiều nhất hiện nay. Về thực chất, thuế chống bán phá giá là một loại thuế nhập khẩu bổ sung đánh vào những hàng hóa bị bán phá giá ở nước nhập khẩu nhằm hạn chế những thiệt hại do việc bán phá giá đưa đến cho ngành sản xuất của nước đó nhằm bảo đảm sự công bằng trong thương mại (nói chính xác đó là một sự bảo hộ hợp lý cho sản xuất trong nước). Thuế này đánh vào các nhà sản xuất riêng lẻ chứ không phải là thuế áp đặt chung cho hàng hóa của một quốc gia.
Như vậy, không phải bất kỳ trường hợp bán phá giá nào cũng bị áp đặt thuế chống bán phá giá. Theo Điều VI Hiệp định GATT năm 1994 cũng như luật pháp của rất nhiều nước thì thuế chống bán phá giá chỉ được áp đặt khi hàng hóa được bán phá giá gây thiệt hại đáng kể hay đe dọa gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất ở nước nhập khẩu. Nếu một hàng hóa được xác định là có hiện tượng bán phá giá nhưng không gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất mặt hàng đó ở nước nhập khẩu thì sẽ không bị áp đặt thuế chống bán phá giá và các biện pháp chống phá giá khác.
Trước thực trạng nói trên, các thành viên WTO bên cạnh việc tìm ra những giải pháp để đối phó với việc áp dụng thuế chống bán phá giá, đã tích cực sử dụng những cơ chế thích hợp để bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của mình. Bên cạnh đó, thực tiễn tham gia của Việt Nam trong việc áp dụng thuế chống bán phá giá và trong các vụ tranh chấp về thuế chống bán phá giá đã đặt ra một yêu cầu cấp bách đối với việc nghiên cứu một cách toàn diện pháp luật quốc tế trong việc áp dụng và giải quyết tranh chấp về thuế chống bán phá giá tại WTO, học hỏi kinh nghiệm của các nước cũng như xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan có liên quan ở trong và ngoài nước, để từ đó có thể rút ra bài học cho Việt Nam, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tham gia của Việt Nam vào việc áp dụng thuế chống bán phá giá theo quy định tại Điều VI khoản 2 Hiệp định GATT năm 1994.
Xuất phát từ thực tiễn tham gia của Việt Nam và các nước thành viên WTO khác vào việc áp dụng thuế chống bán phá giá theo Điều VI khoản 2 Hiệp định GATT năm 1994, cũng như thấy được tính cấp thiết và tầm quan trọng của vấn đề này, em quyết định chọn đề tài: “Phân tích thực trạng áp dụng Điều VI khoản 2 Hiệp định GATT năm 1994 và rút ra bài học cho Việt Nam” để đi sâu nghiên cứu.
2. Mục đích và phương pháp nghiên cứu
– Mục đích nghiên cứu: Cập nhật số liệu cho bài nghiên cứu bằng cách thống kê những vụ tranh chấp liên quan đến Điều VI khoản 2 Hiệp định GATT năm 1994 và phân tích số liệu thống kê; Phân tích, đánh giá những vấn đề pháp lý liên quan đến thực trạng áp dụng Điều VI khoản 2 Hiệp định GATT năm 1994; Trên cơ sở nghiên cứu, rút ra bài học cho Việt Nam bằng cách đề xuất những kiến nghị và giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của Điều VI khoản 2 Hiệp định GATT năm 1994 về vấn đề này.
– Phương pháp nghiên cứu: Để đạt được mục đích trên, bài luận đã tổng hợp, thống nhất, đúc kết và mở rộng những kiến thức đã tích lũy trong suốt quá trình học tập, kết hợp giữa việc tổng hợp sách báo, tài liệu với việc đi sâu vào phân tích thực tiễn, tham khảo ý kiến, sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như phương pháp lịch sử, xã hội học, thu thập số liệu thống kê, tổng hợp và so sánh, phân tích, đánh giá, kết hợp với các phương pháp tư duy logic, phương pháp phân tích số liệu và phương pháp biện chứng nhằm tìm ra hướng đi hợp lý và hiệu quả nhất.
3. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung bài luận gồm 3 chương cụ thể như sau:
Chương 1. Thống kê những vụ tranh chấp liên quan đến Điều VI khoản 2 Hiệp định GATT năm 1994 và phân tích số liệu thống kê
Chương 2. Những vấn đề pháp lý liên quan đến thực trạng áp dụng Điều VI khoản 2 Hiệp định GATT năm 1994
Chương 3. Bài học cho Việt Nam.
CHƯƠNG 1: THỐNG KÊ NHỮNG VỤ TRANH CHẤP LIÊN QUAN ĐẾN ĐIỀU VI KHOẢN 2 HIỆP ĐỊNH GATT NĂM 1994 VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU THỐNG KÊ
1.1. Thống kê những vụ tranh chấp liên quan đến Điều VI khoản 2 Hiệp định GATT năm 1994
Trong hơn 28 năm qua, về cơ bản, việc giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế nói chung và tranh chấp về thuế chống bán phá giá nói riêng đã đáp ứng được phần nào những đòi hỏi của các thành viên tại WTO về một cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại rõ ràng, nhanh chóng và hiệu quả.
Khởi đầu cho việc áp dụng Điều VI khoản 2 Hiệp định GATT năm 2014 là vụ tranh chấp giữa Ấn Độ và Hoa Kỳ (DS206[1]) với yêu cầu tham vấn của Ấn Độ được đưa ra ngày 4 tháng 10 năm 2000 liên quan tới việc bán một số sản phẩm thép tấm từ Ấn Độ có chất lượng carbon cắt theo chiều dài với giá thấp hơn giá trị hợp lý của Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC).
Còn gần đây nhất, tính đến hết tháng 9 năm 2022 là vụ tranh chấp giữa Peru và Argentina (DS614[2]), với yêu cầu tham vấn của Argentina được gửi ngày 2 tháng 9 năm 2022, liên quan tới các biện pháp chống bán phá giá và đối kháng đối với dầu diesel sinh học của Argentina.
[1] Dispute settlement, DS206: United States – Anti-Dumping and Countervailing Measures on Steel Plate from India, https://www.wto.org/english/tratop_e/dispu_e/cases_e/ds206_e.htm (truy cập ngày 26/01/2024).
[2] Dispute settlement, DS614: Peru – Antidumping and countervailing measures on biodiesel from Argentina, https://www.wto.org/english/tratop_e/dispu_e/cases_e/ds614_e.htm (truy cập ngày 26/01/2024).
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
[xyz-ihs snippet=”B0057″]
