THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật – Đại học Huế
- Định dạng: WORD
- Số trang: 22 trang (cả bìa)
- Năm: 2021 / Mã số: B0204.
- Từ khóa: Hardship/ Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KHOẢN HARDSHIP TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ QUỐC TẾ | 2 |
| 1.1. Khái niệm về Điều khoản Hardship | 2 |
| 1.2. Các điều kiện để được công nhận Hardship | 4 |
| 1.2.1 Điều kiện công nhận Hardship trong PICC | 4 |
| 1.2.2. Điều kiện công nhận Hardship của PECL | 6 |
| 1.3. Các hệ quả pháp lý khi xảy ra Hardship | 7 |
| CHƯƠNG 2: NHỮNG LƯU Ý KHI VẬN DỤNG ĐIỀU KHOẢN HARDSHIP ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP KHI ĐÀM PHÁN, SOẠN THẢO HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ | 11 |
| 2.1. Thực trạng áp dụng Điều khoản hardship trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế đối với doanh nghiệp Việt Nam | 11 |
| 2.2. Nguyên nhân các doanh nghiệp Việt Nam ít sử dụng Điều khoản Hardship trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế | 14 |
| 2.3. Những lưu ý cho doanh nghiệp khi đàm phán soạn thảo Hợp đồng Thương mại quốc tế | 15 |
| KẾT LUẬN | 17 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 18 |
LỜI MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết thì hợp đồng là một công cụ vừa chia sẻ lợi ích, vừa là công cụ chia sẻ rủi ro, tại thời điểm giao kết hợp đồng lợi ích của hai bên là ngang bằng nhau vì họ đã tự nguyện thỏa thuận, đôi bên cùng có lợi. Theo đó, yêu cầu các bên trong hợp đồng không chỉ quan tâm đến lợi ích của mình mà còn quan tâm đến lợi ích của đối tác để cả hai cùng có lợi và bình đẳng ở góc độ nào đó. Nguyên tắc này xuất phát từ nhận thức các bên tham gia sẽ chỉ ký hợp đồng nếu có lợi, và vì vậy nếu một bên không những không được lợi mà còn thiệt hại thì sẽ chẳng cần tham gia. Trong hơp đồng nếu không quy định quyền thương lượng lại, thì dựa trên nguyên tắc thiện chí, các bên vẫn có thể thương lượng lại hợp đồng để cân bằng lợi ích khi một bên bị thiệt hại lớn do sự thay đổi của bối cảnh. Do vậy, việc ghi nhận quyền thương lượng lại không phải là vô nghĩa và hoàn toàn không trái với bản chất của hợp đồng – một sự thỏa thuận có lợi cho các bên tham gia. Ngoài ra, hợp đồng được thiết lập hợp pháp thì có hiệu lực như pháp luật đối với các bên từ thời điểm giao kết mà các bên không được tự ý sửa đổi, hay hủy bỏ. Đây chính là yêu cầu mang tính bản chất của hiệu lực hợp đồng và là nội dung cơ bản của nguyên tắc hiệu lực bất biến trong lĩnh vực hợp đồng. Tuy nhiên, xã hội luôn vận động kéo theo sự thay đổi của nhiều thứ, hợp đồng cũng không cũng nằm ngoài quy luật đó. Vì thế mà cần có một cơ chế điều chỉnh khi mà trong quá trình thực hiện hợp đồng có những điều kiện thay đổi gây trở ngại hay khó khăn cho việc thực hiện hợp đồng. Vì thế mà xuất hiện điều khoản gọi là hardship. Qua bài tiểu luận này, ta cùng đi tìm hiểu, phân tích Điều khoản Hardship trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế trên hai phương diện, đó là quy định của pháp luật về Điều khoản Hardship trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế và những lưu ý khi vận dụng Điều khoản Hardship đối với các doanh nghiệp Việt Nam khi đàm phán, soạn thảo Hợp đồng Thương mại quốc tế hiện nay.
CHƯƠNG 1: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KHOẢN HARDSHIP TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ QUỐC TẾ
1.1. Khái niệm về Điều khoản Hardship
Ngày nay, tuy điều khoản Hardship trở nên phổ biến trong thực tiễn thương mại quốc tế, khái niệm này vẫn chưa có sự thống nhất.
Hardship theo quy định tại khoản 1 Điều 420 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2015 thì:
“Hoàn cảnh thay đổi cơ bản khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết hợp đồng; b) Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh;
c) Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác;
d) Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên;
đ) Bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích”[1] .
Hardship – hiểu nôm na là điều khoản quy định cho phép một bên trong hợp đồng có quyền xin điều chỉnh hợp đồng, khi có những thay đổi về hoàn cảnh và môi trường kinh tế, tới mức gây ảnh hưởng đặc biệt xấu đến quyền lợi của một bên, làm mất đi cân bằng kinh tế của hợp đồng, làm cho việc thực hiện hợp đồng trở nên cực kỳ khó khăn và tốn kém.
Theo đó, điều khoản hardship quy định những cơ chế can thiệp hợp lý vào hiệu lực hợp đồng, như cho phép các bên yêu cầu Tòa án điều chỉnh hoặc nếu không điều chỉnh được thì cho chấm dứt hợp đồng, nhằm tái lập sự cân bằng về lợi ích giữa các bên trong hợp đồng, theo những căn cứ, thủ tục, điều kiện chặt chẽ và hạn chế.
Điều khoản Hardship được biết đến là điều khoản đàm phán lại hợp đồng khi có sự thay đổi hoàn cảnh dẫn đến khó khăn đặc biệt trong việc thực hiện hợp đồng. Ngày nay, điều khoản này trở nên phổ biến hơn trong thực tiễn thương mại quốc tế và đã trở thành cơ sở thực tiễn quan trọng trong PICC ( Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế ) và PECL ( Bộ nguyên tắc luật hợp đồng Châu Âu). Mặc dù vậy, khái niệm này cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất. Cụ thể:
Theo định nghĩa nêu tại Điều 6.2.2 của UNIDROIT trong PICC năm 2016 thì: “Một hoàn cảnh được gọi là Hardship, nếu nó gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự cân bằng của hợp đồng, hoặc làm cho phí thực hiện tăng quá cao, hoặc giá trị nhận được do thực hiện nghĩa vụ giảm quá thấp…”[2].
Theo PECL, điều khoản Hardship được quy định tại Điều 6: 111 với tên gọi “Change of Circumstances” (“Sự thay đổi hoàn cảnh”) Theo đó, “mỗi bên phải hoàn thành các nghĩa vụ của mình, ngay cả khi việc thực hiện hợp đồng trở nên tốn kém hơn, do chi phí thực hiện tăng hoặc do giá trị của khoản thanh toán giảm” (khoản 1), và khoản 2 quy định: “Tuy nhiên, nếu việc thực hiện hợp đồng trở nên quá khó khăn bởi vì có sự thay đổi về hoàn cảnh, các bên buộc phải tiến hành thoả thuận với quan điểm là chỉnh sửa hợp đồng hoặc chấm dứt hợp đồng”[3].
Mặc dù không nêu ra một khái niệm cụ thể về Hardship nhưng từ quy định này có thể thấy PECL cũng coi Hardship là một sự thay đổi hoàn cảnh, không phụ thuộc vào chủ quan của các bên, mà sự thay đổi hoàn cảnh này gây khó khăn cho việc thực hiện hợp đồng khiến các bên phải thỏa thuận lại với nhau để xem xét lại việc thực hiện hợp đồng có còn cần thiết nữa hay không.
Để xác định mức độ khó khăn của một hoàn cảnh có sự thay đổi được công nhận là Hardship, PECL cũng đã đưa ra ví dụ minh chứng: Công ty Tsakiroglou và Noblee Thorl GMbH đã thỏa thuận mua bán đậu phộng Sudan giá CIF, tuy nhiên, kênh đào Suez bất ngờ đóng cửa làm cho lộ trình của tàu phải vòng qua Mũi Hảo Vọng. Như vậy, với lộ trình mới này, Người Mua phải chịu thêm một khoản phí lớn nữa so với dự tính ban đầu. Theo PECL, cả 2 bên cần đàm phán lại và điều chỉnh lại giá trị của hợp đồng đã ký kết.
Ở Việt Nam, pháp luật về hợp đồng hiện hành chưa quy định về Hardship theo đó cho phép các bên đàm phán lại, điều chỉnh nội dung của hợp đồng trong trường hợp hoàn cảnh có sự thay đổi làm mất cân bằng nghiêm trọng giữa các bên. Tuy vậy, điều khoản Hardship cũng đã được đề cập đến ở một mức độ nhất định. Tuy nhiên, đó chỉ là những quy định tương đối đặc thù để giải quyết các tranh chấp liên quan trong các hợp đồng chuyên biệt và không phải là căn cứ chung để giải quyết các tranh chấp liên quan trong các hợp đồng khác.
Như vậy, dù tên gọi khác nhau, nhưng PICC và PECL đều công nhận Hardship với cách hiểu như nhau. Tuy nhiên, PECL cho phép cả hai bên đàm phán lại, nhưng và chỉ khi các bên không đàm phán lại thì tòa án mới “cho chấm dứt” hoặc “sửa đổi hợp đồng theo một cách công bằng”. Trong khi đó, pháp luật Việt Nam chưa có một điều khoản cụ thể về Hardship hoặc chưa đưa ra một định nghĩa về Hardship trong các văn bản pháp luật hiện hành mặc dù đã có một số quy định liên quan đến các trường hợp khó khăn do thay đổi hoàn cảnh và cho phép có sự điều chỉnh hợp đồng sau khi ký kết.
1.2. Các điều kiện để được công nhận Hardship
1.2.1 Điều kiện công nhận Hardship trong PICC
Theo Điều 6.2.2 của PICC, hoàn cảnh được coi là Hardship phải thỏa mãn bốn điều kiện được quy định trong Điều 6.2.2:
(1) Các sự kiện này xảy ra hoặc được bên bị thiệt hại biết đến sau khi giao kết hợp đồng;
(2) Bên bị bất lợi đã không thể dự đoán đến các sự kiện đó khi giao kết hợp đồng;
(3) Các sự kiện này nằm ngoài sự kiểm soát của bên bị bất lợi;
(4) Rủi ro về các sự kiện này không được bên bị bất lợi gánh chịu[4].
[1] Khoản 1 Điều 420 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2015.
[2] Bộ nguyên tắc Unidroit 2016;
[3] Bộ nguyên tắc Luật hợp đồng Châu Âu Pecl;
[4] Bộ nguyên tắc Unidroit 2016;
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
https://shop.tieuluannganhluat.com/san-pham/phap-luat-ve-dieu-khoan-hardship-trong-hop-dong-mua-ban-hang-hoa-quoc-te/
[xyz-ihs snippet=”B0204″]
