THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 11 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0088.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| PHẦN MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐỊNH GIÁ TÊN THƯƠNG MẠI | 2 |
| CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ ĐỊNH GIÁ TÊN THƯƠNG MẠI VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ | 5 |
| 2.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật về định giá tên thương mại | 5 |
| 2.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về định giá tên thương mại | 6 |
| KẾT LUẬN | 7 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 8 |
LỜI MỞ ĐẦU
Với sự phát triển của nền kinh tế tri thức như hiện nay đã cho thấy tài sản trí tuệ đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong giá trị doanh nghiệp. Đó là thước đo hiệu quả kinh doanh, sức cạnh tranh và khả năng phát triển của mỗi doanh nghiệp. Việc tiến hành định giá tài sản trí tuệ nói chung và tên thương mại nói riêng giúp cho các doanh nghiệp khẳng định được vị thế, uy tín của mình trên thị trường cũng như giúp doanh nghiệp có thể thương mại hóa tài sản trí tuệ một cách thuận lợi.
Tuy nhiên, do vấn đề định giá tài sản trí tuệ hay tên thương mại còn khá mới ở Việt Nam, nên việc tiến hành định giá cũng như quy định của pháp luật về vấn đề này vẫn còn nhiều bất cập, chưa rõ ràng, chưa thống nhất và thực sự hợp lí dẫn đến việc đánh giá không đúng về giá trị của tên thương mại.
Đó chính là lí do mà tác giả lựa chọn đề tài: “Pháp luật về định giá quyền sở hữu trí tuệ là tên thương mại và thực tiễn áp dụng” với mục đích chỉ ra những hạn chế về pháp luật của Việt Nam về định giá tên thương mại và đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam về định giá tài sản trí tuệ nói chung và tên thương mại nói riêng.
CHƯƠNG 1: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐỊNH GIÁ TÊN THƯƠNG MẠI
Hiện nay, các quy định của pháp luật về định giá tài sản trí tuệ nói chung và tên thương mại nói riêng được phân bố rải rác trong nhiều văn bản luật, liên quan đến nhiều vấn đề, lĩnh vực khác nhau. Về cơ bản, có thể chia quy định của pháp luật Việt Nam về định giá quyền sở hữu trí tuệ là tên thương mại thành các nhóm như sau:
Nhóm 1: Các văn bản về đối tượng tài sản trí tuệ được định giá
Đối với nhóm này có thể kể đến một số văn bản như: Luật Sở hữu trí tuệ; Tiêu chuẩn Thẩm định giá số 13 – Thẩm định giá tài sản vô hình (TĐGVN 13) ban hành kèm theo Thông tư số 06/2014/TT-BTC ngày 07/01/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài chính; Thông tư liên tịch số 39/2014/TTLT-BKHCN-BTC ngày 17/12/2014 của Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính quy định việc định giá kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tài sản trí tuệ sử dụng ngân sách nhà nước; Nghị định 126/2017/NĐ-CP ngày 16/11/2017 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp nhà nước và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do doanh nghiệp nhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ thành công ty cổ phần.
Khoản 2 Điều 3, Thông tư liên tịch số 39/2014/TTLT-BKHCN-BTC quy định: “Tài sản trí tuệ là tài sản vô hình, có tính sáng tạo, xác định được, kiểm soát được và có khả năng mang lại lợi ích kinh tế cho chủ sở hữu tài sản đó.
Tài sản trí tuệ bao gồm đối tượng được bảo hộ và đối tượng không được bảo hộ theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ như sáng chế, bí mật kinh doanh, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, tên thương mại, giống cây trồng, chương trình máy tính, tác phẩm khoa học, sáng kiến, giống vật nuôi, thiết kế kỹ thuật.”
Theo pháp luật sở hữu trí tuệ, tên thương mại của doanh nghiệp là đối tượng bảo hộ của quyền sở hữu trí tuệ, là tài sản của doanh nghiệp với những đóng góp đáng kể vào thành công của doanh nghiệp và do tiềm năng của tên thương mại đối với các doanh nghiệp trong việc tạo ra giá trị tài sản trí tuệ của mình đã dẫn tới nhu cầu ngày càng gia tăng về phương pháp định giá quyền SHTT đối với tên thương mại[1]. Do đó, tên thương mại là đối tượng được định giá theo khái niệm này.
Nhóm 2: Các quy định về phương pháp định giá
Quy định về phương pháp định giá tên tương mại được thể hiện qua các văn bản như: Luật Giá; Nghị định số 89/2013/NĐ- CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Giá về thẩm định giá; Thông tư số 06/2014/TT – BTC ban hành tiêu chuẩn thẩm định giá số 13; Thông tư liên tịch số 39/2014/TTLT – BKHCN – BTC giữa Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Tài chính quy định việc định giá kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, TSTT sử dụng ngân sách nhà nước; Thông tư số 10/2019/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn việc xác định giá trị tài sản là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng vốn nhà nước.
Theo đó, hiện nay, tên thương mại được đính giá bằng ba phương pháp cơ bản, đó là: phương pháp chi phí, phương pháp thị trường và phương pháp thu nhập. Trong đó:
– Nếu định giá theo phương pháp chi phí sẽ căn cứ vào chi phí tái tạo ra tài sản vô hình giống nguyên mẫu với tài sản cần thẩm định giá hoặc chi phí thay thế để tạo ra một tài sản vô hình tương tự có cùng chức năng, công dụng theo giá thị trường hiện hành[2].
– Nếu tiếp cận theo phương pháp thị trường: Giá trị của tài sản vô hình cần thẩm định giá được xác định căn cứ vào việc so sánh, phân tích thông tin của các tài sản vô hình tương tự có giá giao dịch trên thị trường[3].
– Nếu tiếp cận theo phương pháp thu nhập: Cách tiếp cận từ thu nhập xác định giá trị của tài sản vô hình thông qua giá trị hiện tại của các khoản thu nhập, các dòng tiền và các chi phí tiết kiệm do tài sản vô hình mang lại[4].
Trước đây, Thông tư số 202/2011/TT-BTC, giá trị thương hiệu được xác định trên cơ sở các chi phí thực tế cho việc tạo dựng và bảo vệ nhãn hiệu, tên thương mại trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp trước thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp và Thông tư số 127/2014/TT-BTC quy định Giá trị thương hiệu được xác định trên cơ sở các chi phí thực tế cho việc tạo dựng và bảo vệ nhãn hiệu, tên thương mại trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp trước thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp…
Hiện nay, Nghị định 126/2017/NĐ-CP có sử dụng thuật ngữ giá trị thương hiệu, và có xác định tên thương mại, nhãn hiệu cấu thành giá trị thương hiệu. Hay nói cách khác, có thể hiểu thương hiệu là tài sản trí tuệ và được coi là tài sản vô hình.
[1] Phạm Thúy Liễu, Các vấn đề pháp lý liên quan đến xác định giá trị tài sản trí tuệ là tên thương mại của doanh nghiệp, Tạp chí Tài chính. https://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-phap-luat/cac-van-de-phap-ly-lien-quan-den-xac-dinh-gia-tri-tai-san-tri-tue-la-ten-thuong-mai-cua-doanh-nghiep-338410.html
[2] Mục 10.1 Tiêu chuẩn thẩm định giá số 13 – Thẩm định giá tài sản vô hình.
[3] Mục 9.1 Tiêu chuẩn thẩm định giá số 13 – Thẩm định giá tài sản vô hình.
[4] Mục 11.1 Tiêu chuẩn thẩm định giá số 13 – Thẩm định giá tài sản vô hình.
