THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Kiểm sát Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 25 trang (cả bìa)
- Năm: 2022 / Mã số: B0163.
- Pháp luật áp dụng: Hiến pháp năm 2013
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI GIỚI THIỆU | 1 |
| PHẦN MỞ ĐẦU | 2 |
| 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài | 2 |
| 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu | 4 |
| 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu | 5 |
| CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VÈ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ BẢO ĐẢM QUYỀN CHÍNH TRỊ | 6 |
| 1.1. Khái niệm quyền con người | 6 |
| 1.2. Các yếu tố cơ bản của khái niệm quyền con người | 8 |
| 1.3. Phân loại | 9 |
| 1.3.1. Từ góc độ triết học | 9 |
| 1.3.2. Từ góc độ khoa học pháp lý | 9 |
| 1.3.3. Từ góc độ của yêu cầu phá chế | 10 |
| 1.4. Khái niệm quyền chính trị | 10 |
| 1.5. Bảo đảm quyền chính trị | 11 |
| CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ĐẢM BẢO QUYỀN CHÍNH TRỊ Ở PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ QUỐC TẾ HIỆN NAY | 12 |
| 2.1. Quyền chính tri ở pháp luật Việt Nam | 12 |
| 2.1.1. Quyền bầu cử, ứng cử, tham gia quản lý nhà nước | 12 |
| 2.1.2. Quyền tự do ngôn luận, báo chí và tự do lập hội | 13 |
| 2.1.3. Quyền của các đồng bào, dân tộc ít người | 14 |
| 2.1.4. Quyền chính tri ở pháp luật quốc tế | 15 |
| 2.2. Nhận xét và đánh giá chung về quyền con người trong chính trị của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế | 15 |
| 2.2.1. Nhận xét và đánh giá chung về quyền con người trong chính trị của pháp luật Việt Nam | 15 |
| 2.2.2. Nhận xét và đánh giá chung về quyền con người trong chính trị của pháp luật quốc tế | 16 |
| CHƯƠNG III: CƠ CHẾ ĐẢM BẢO VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUYỀN CHÍNH TRỊ CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ QUỐC TẾ | 17 |
| 3.1. Cơ chế đảm bảo các quyền chính trị ở Việt Nam (6) | 17 |
| 3.1.1. Nội luật hóa các điều ước quốc tế | 17 |
| 3.1.2. Tham gia các tổ chức nhân quyền thế giới và khu vực | 18 |
| 3.1.3. Hiện thực hóa Điều 119 Hiến pháp 2013 | 18 |
| 3.2. Giải pháp tăng cường bảo đảm quyền chính trị ở Việt Nam (8) | 19 |
| KẾT LUẬN | 20 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 21 |
LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Tri thức về quyền con người có ý nghĩa quan trọng cho sự phát triển và tiến bộ của các xã hội cũng như là tiền đề cho sự phát triển đầy đủ về nhân cách và năng lực của mỗi cá nhân. Ở phạm vi rộng hơn, tri thức về quyền con người là tiền đề cho hòa bình và thịnh vượng của toàn nhân loại.
Ai sinh ra đều có quyền được sống, được tự do và được mưu cầu hạnh phúc. Mỗi cá nhân được nhận sự bảo đảm bằng các quy định và các thiết chế trong pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật quốc tế.
Quyền con người luôn là mục tiêu hướng tới của nhân loại, nhưng quyền con người chỉ thực sự được áp dụng vào thực tiễn, có giá trị pháp lý và được quốc tế hóa sau khi Liên hợp quốc ra đời. Thông qua nỗ lực của Liên hợp quốc, Luật quốc tế về quyền con người đã ra đời và trở thành một ngành luật độc lập của công pháp quốc tế. Các văn kiện quyền con người luôn nhấn mạnh: “Quyền con người phải được bảo vệ bằng luật pháp”, theo các nguyên tắc pháp quyền, chế độ pháp quyền.
Trong phạm vi quốc gia, pháp luật bảo vệ quyền con người thể hiện ở việc ghi nhận các quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp, pháp luật, hoàn thiện các bộ máy nhằm bảo vệ ngày càng tốt hơn quyền con người. Đó cũng là cơ sở để Đảng và Nhà nước ta nhấn mạnh vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm quyền con người. Từ Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng cộng sản Việt Nam đến Hiến pháp năm 1992 đều ghi nhận các quyền con người về chính trịm dân sự, văn hóa và xã hội. Đến Hiến pháp năm 2013 quy định rõ hơn về trách nhiệm của Nhà nước trong bảo đảm các quyền con người, cụ thể là: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”. Hiến pháp năm 2013 đã có những thay đổi hết sức quan trọng về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
Bên cạnh đó, luật quốc tế về quyền con người là tổng thể các nguyên tắc và quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể luật quốc tế trong việc bảo vệ và phát triển các quyền cơ bản của con người ở từng quốc gia cũng như trên phạm vi toàn cầu. Các quốc gia có nghĩa vụ tôn trong các quyền cơ bản của con người và hợp tác quốc tế trong việc bảo vệ, phát triển quyền con người trên cơ sở nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác và không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế.
Luật pháp quốc tế cũng có nhũng chế định nghiêm khắc để bảo vệ quyền con người cà khi có sự vi phạm nhân quyền nghiêm trọng tại một quốc gia thì LHQ thông qua Hội đồng Bảo an có quyền sử dụng vũ lực quân sự để can thiệp vào quốc gia. Đây là quy định có tính “thiện chí, tích cực” trong pháp luật quốc tế.
Tình hình quốc tế hiệ nay đang diễn ra vô cùng phức tạp. Có rất nhiều cuộc xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc ở phạm vi các quốc gia, khu vực. Đặc biệt là sự tồn tại và bành chướng của các tổ chức khủng bố thế giới với rất nhiều hành vi xâm hại nghiêm trọng đến quyền con người, để lại những hậu quả vô cùng nặng nề cho nhân loại. Từ một nhóm thuộc Al-Qaede, Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS) đang chứng tỏ là lực lượng khủng bố đáng sợ nhất hiện nay với những tội ác và hình phạt man rợ vi phạm nghiêm trọng các quyền con người hiện nay như hành quyết các con tin nước ngoài với hình thức man rợ như chặt đầu, thiêu sống, dìm xuống hồ rồi quay video, tiến hành thảm sát hàng loạt binh sỹ bại trận, xử bắn tất cả đàn ông, bắt phụ nữ và bé gái trở thành nô lệ tình dục,…
Từ đó đặt ra một nhiệm vụ cấp bách của cộng đồng quốc tế nằm tiêu diệt chủ nghĩa khủng bố để bảo vệ quyền con người khỏi những xâm hại nghiêm trọng đó.
Bên cạnh đó, theo các văn kiện quốc tế, quyền con người là bình đẳng, phổ quát và không thể chuyển giao của mỗi cá nhân. Ngược lại, luật tục dựa trên các giá trị truyền thống và thường thể hiện sự phân chia đẳng cấp trong xã hội. Do đó, hiến pháp là một cơ chế dung hòa hai quan niệm khác nhau này. Các nhà lập hiến có thể đưa ra chỉ dẫn cho việc cân nhắc giữa Hiến pháp và các nguồn luật khác. Nhiều hiến pháp đã thực hiện điều này bằng cách ghi nhận rõ ràng rằng hiến pháp là luật tối cao. Ngoài ra, các hiến pháp này còn có các điều khoản quy định các quy phạm pháp luật mâu thuẫn với hiến pháp sẽ bị tuyên vô hiệu. Mặt khác, có thể các điều khoản khác của hiến pháp ghi nhận các nguồn pháp lý khác dưới dạng ngoại lệ.
Bài tiểu luận này tập trung khái quát những vấn đề lý luận về quyền chính trị- là một bộ phận cơ bản, thiết yếu, có vị trí đặc biệt quan trọng trong tổng thể quyền con người, bảo đảm quyền dân sự, chính trị thông qua phân tích các quy định của Hiến pháp, pháp luật và thực tiễn bảo đảm quyền chính trị ở Việt Nam cũng như quốc tế; đồng thời, đưa ra một số giải pháp góp phần bảo đảm tốt hơn các quyền chính trị Việt Nam cũng như quốc tế. Vì vậy, em xin chọn đề tài: “Quyền con người về nhóm quyền chính trị trong pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế”.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích, làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực trạng bảo đảm quyền con người trong pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế, mục đích nghiên cứu của đề tài là tìn ra sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế về quyền con người trong các nhóm quyền chính trị.
Để thực hiện được mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
Một là, tổng hợp tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước liên quan đến bảo đảm quyền con người trong các vấn đề thuộc nhóm quyền chính trị, từ đó rút ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu làm rõ trong đề tài.
Hai là, nghiên cứu những vấn đề lý luận nhàm xây dựng khái niệm quyền con người trong các nhóm quyền chính trị, khái niệm bảo đảm quyền con người trong các nhóm quyền chính trị, nội dung bảo đảm quyền con người trong các nhóm quyền chính trị, cơ chế bảo đảm quyền con người trong các nhóm quyền chính trị.
Ba là, phân tích các quy trình, khảo sát thực trạng thực hiện các quy định pháp luật về bảo đảm quyền con người trong các nhóm quyền chính trị ở Việt Nam và quốc tế, nêu những kết quả đạt được, đánh giá và chỉ ra những hạn chế, bất cập và nguyên nhân chủ yếu.
Bốn là, đề xuất các quan điểm và giải pháp bảo đảm quyền con người trong các nhóm quyền chính trị ở Việt Nam hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật về bảo đảm quyền con người trong pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế trong các nhóm quyền chính trị. Cụ thể hơn, đó là những quy đinh của pháp luật về quyền con người mà người dân được hưởng trong các nhóm quyền chính trị và các hoạt động chính trị thể hiện để các quyền con người của người dân được thực hiện.
Có nhiều hình thức bảo đảm quyền con người, tuy nhiên trong khuôn khổ của đề tài, đề tài giới hạn nghiên cứu lý luận về các nhóm quyền chính trị. Nghiên cứu thực tiễn quy định pháp luật, có nghiên cứu số liệu tổng quát về thực trạn thực hiện các quy định của pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật quốc tế hiện hành về bảo đảm quyền con người trong các nhóm quyền chính trị.
Đề tài tập trung khảo sát thực trạng thực hiện các quy định của pháp luật Việt Nam cũng như quốc tế hiện hành về bảo đảm quyền con người về các nhóm quyền chính trị.
Đề tài tập trung nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2013 đến nay.
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VÈ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ BẢO ĐẢM QUYỀN CHÍNH TRỊ
1.1. Khái niệm quyền con người
Quyền con người là những giá trị cao quý, kết tinh từ nền văn hóa của tất cả các dân tộc trên thế giới. Đây là tiếng nói chung, mục tiêu chug và phương tiện chung của toàn nhân loại để bảo vệ và thúc đẩy nhân phẩm, hạnh phúc của mọi người.
Khi chiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc, cộng đồng quốc tế và các lực lượng tiến bộ đã cùng nhau ký kết Hiến chương thành lập nên Liên hợp quốc với mục đích thực hiện sự hợp tác quốc tế… trong sự phát triển và sự tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi người. Quyền con người đã trở thành một hệ thống có tiêu chuẩn pháp luật quốc tế có tính chất bắt buộc với mọi quốc gia. Quyền con người là khái niệm chính trị- pháp lý rất quan trọng không chỉ trong luật quốc gia mà còn trong luật quốc tế.
Có rất nhiều định nghĩa về quyền con người ở cả cấp độ quốc tế và quốc gia. Mỗi định nghĩa nghiên cứu quyền con người một gốc độ nhất định. Tuy nhiên, ở cấp độ quốc tế, định nghĩa quyền con người của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người thường được trích dẫn vởi các nhà nghiên cứu. Theo định nghĩa này, quyền con người là những đảm bảo pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người.
Về mặt pháp lý, quyền con người là phẩm giá, năng lực, nhu cầu và lợi ích hợp pháp của con người được thể chế bảo vệ bởi luật quốc gia và luật quốc tế. Những đặc tính quan trọng nhất của quyền con người được tất cả các văn kiện của Liên hợp quốc công nhận gồm:
Một là, quyền con người là bất khả xâm phạm không thể phân chia, liên quan với nhau và phụ thuộc lẫn nhau. Tính không thể phân chia của nhân quyền bắt nguồn từ nhận thức rằng xá quyền con người đều có tầm quan trọng như nhau trên về nguyên tắc không có quyền nào được coi là có giá trị cao hơn quyền nào. Việc tước bỏ hay hạn chế bất kỳ quyền con người nào đều tác động tiêu cực đến nhân phẩm, giá trị và sự phát triển của con người.
Tuy nhiên, tính chất không thể phân chia không hàm ý rằng mọi quyền con người đều cần phải được chú ý và quan tâm ở mức độ giống hệt nhau trong mọi hoàn cảnh. Trong từng bối cảnh cụ thể, cần và có thể ưu tiên thực hiện một số quyền nhất định, miễn là phải dựa trên những yêu cần thực tế của các quyền đó. Ví dụ trong bối cảnh dịch bệnh đe dọa hoặc với những người bị bệnh tật, quyền được ưu tiên thực hiện là quyền được chăm sóc y tế. Còn trong bối cảnh nạn đói, quyền được ưu tiên phải là quyền về lương thực, thực phẩm. Ở góc độ rộng hơn, trong một số hoàn cảnh, cần ưu tiên thực hiện quyền của một số nhóm xã hội dễ bị tổn thương trong khi vẫn tôn trọng quyền của tất cả các nhóm khác.
Tính liên quan với nhau và phụ thuộc lẫn nhau của nhân quyền thể hiện ở chỗ việc đảm bảo các quyền con người, toàn bộ hoặc một phần nằm trong mối liên hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau. Sự vi phạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tích cực đến việc đảm bảo các quyền khác.
Thực tế cho thấy để đảm bảo các quyền bầu cử, ứng cử (các quyền chính trị cơ bản) thì cần đồng thời bảo đảm một loạt quyền kinh tế, xã hội, văn hóa khác có liên quan như quyền được giáo dục, quyền được chăm sóc y tế,… vì nếu không thì các quyền bầu cử, ứng cử rất ít có ý nghĩa với những người đói khổ, bệnh tật, hay mù chữ.
Tương tự, việc bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa đều gắn liền với sự phát triển của các quyền dân sự, chính trị. Bởi lẽ kết quả của việc bảo đảm các quyền chính trị chính là sự ổn định, lành mạnh trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội…
Hai là, quyền con người có tính phổ quát tức là phải được thực hiện trên cơ sở bình đẳng và không phân biệt đối xử với tất cả mọi người vì bất cứ lý do gì, chẳng hạn như về chủng tộc, dân tộc, giới tính, tôn giáo, độ tuổi, thành phần xuất thân…
Ba là, quyền con người được thực hiện trên cơ sở tôn trọng nhân phẩm và giá trị của mỗi con người. Nhà nước có trách nhiệm hàng đầu trong việc thúc đẩy và thực hiện quyền con người.
Việc nghiên cứu quyền con người là nhiệm vụ vô cùng quan trọng bởi lẽ con người là tế bào xã hội, là chủ nhân của nhân loại. Chính vì vậy, việc nghiên cứu quyền con người là nền tảng để phát triển đầy đủ nhân cách năng lực của mình và cũng là nền tảng của sự phát triển và tiến bộ xã hội…
Hiện nay, quyền con người đã trở thành vấn đề thu hút sự chú ý rộng rãi của dư luận thế giới, một nhân tố không kém phần quan trọng trong các chương trịnh nghị sự và văn kiện của các hội nghĩ quốc tế, các tổ chức quốc tế và khu vực, cũng như các hiệp định song phương và đa phương.
1.2. Các yếu tố cơ bản của khái niệm quyền con người
Quyền con người là vấn đề có lịch sử lâu đời, có nội dung rộng lớn. trong lịch sử nhân loại đã có nhiều quan niệm khác nhau, thậm chí đối lập nhau về vấn đề quyền con người. Đó là những khuynh hướng “kinh tế”, khuynh hướng “nhân quyền quan niệm”, dặc biệt là khuynh hướng “tự nhiên” theo thuyết pháp quyền tự nhiên và khuynh hướng “thực định”. Trong quá trình nhận thức, các học thuyết nhân uyền đã tuyeeth đối hóa mặt nào đó của quyền con người, do đó, khó tiệp cận chân lý.
Ngày nay, khoa học pháp luật phát triển đã cho chúng ta nhiều căn cứ để hiểu khái niệm quyền con người được thiết lập bởi hai yếu tố cơ bản…
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
https://shop.tieuluannganhluat.com/san-pham/quyen-con-nguoi-ve-nhom-quyen-chinh-tri-trong-phap-luat-viet-nam-va-phap-luat-quoc-te/
[xyz-ihs snippet=”B0163″]
