THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Kiểm sát Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 33 trang (cả bìa)
- Năm: 2022 / Mã số: B0137.
- Pháp luật áp dụng: Bộ luật Dân sự năm 2015.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2022] Bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 3 B0137 bao lanh thuc hien nghia vu theo quy dinh cua bo luat dan su nam 2015 3](https://bunny-wp-pullzone-evwxkqab4s.b-cdn.net/wp-content/uploads/2024/02/B0137-bao-lanh-thuc-hien-nghia-vu-theo-quy-dinh-cua-bo-luat-dan-su-nam-2015-3.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| PHẦN MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN | 2 |
| 1.1. Khái niệm, đặc điểm của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ | 2 |
| 1.1.1. Khái niệm | 2 |
| 1.1.2. Đặc điểm | 2 |
| 1.2. Phân loại | 5 |
| 1.3. Thực hiện nghĩa vụ riêng rẽ và nghĩa vụ liên đới | 5 |
| 1.4. Giao dịch dân sự | 6 |
| CHƯƠNG II: BẢO LÃNH THỰC HIỆN NGHĨA VỤ THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 | 7 |
| 2.1. Khái niệm | 7 |
| 2.2. Đặc điểm | 7 |
| 2.3. Phân loại bảo lãnh | 9 |
| 2.4. Đối tượng, phạm vi bảo lãnh | 11 |
| 2.4.1. Đối tượng | 11 |
| 2.4.2. Phạm vi | 11 |
| 2.5. Chủ thể | 13 |
| 2.6. Nội dung bảo lãnh | 15 |
| 2.6.1. Quyền và nghĩa vụ của các bên | 15 |
| 2.6.2. Trường hợp nhiều người cùng bảo lãnh một nghĩa vụ | 16 |
| 2.6.3. Việc miễn thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh | 16 |
| 2.6.4. Trách nhiệm dân sự của bên bảo lãnh | 18 |
| 2.7. Thời điểm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh | 18 |
| 2.8. Chấm dứt bảo lãnh | 19 |
| CHƯƠNG III: MỘT HÌNH THỨC BẢO LÃNH PHỔ BIẾN: BẢO LÃNH NGÂN HÀNG | 21 |
| 3.1. Khái niệm | 21 |
| 3.2. Đặc điểm | 21 |
| 3.3. Chủ thể | 22 |
| 3.4. Quyền và nghĩa vụ của các bên | 23 |
| 3.5. Phí bảo lãnh | 23 |
| CHƯƠNG IV: NHẬN XÉT VỀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI CHẾ ĐỊNH BẢO LÃNH THỰC HIỆN NGHĨA VỤ | 25 |
| 4.1. Điểm mới của Bộ luật dân sự năm 2015 về chế định bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ | 25 |
| 4.1.1. Về hình thức bảo lãnh | 25 |
| 4.1.2. Về phạm vi bảo lãnh | 25 |
| 4.1.3. Về quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh | 25 |
| 4.1.4. Về miễn việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh | 25 |
| 4.1.5. Về trách nhiệm dân sự của bên bảo lãnh | 27 |
| 4.1.6. Về hủy bỏ việc bảo lãnh | 27 |
| 4.2. Một số hạn chế liên quan tới chế định bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ trong Bộ luật dân sự năm 2015 và kiến nghị để bộ luật hoàn thiện hơn | 29 |
| KẾT LUẬN | 29 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 30 |
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thực tế, khi xác lập và thực hiện một giao dịch dân sự, mặc dù quá trình này dựa trên sự tự do ý chí và sự tự nguyện của các bên, nhưng không phải chủ thể nào cũng thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Trên cơ sở đó, để bảo đảm quyền lợi của bên có quyền, pháp luật đã cho phép các bên trong quá trình giao kết hợp đồng có thể thỏa thuận kèm theo đó các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Các biện pháp này có ý nghĩa bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng hoặc là cả giao kết và thực hiện hợp đồng. Nhờ có các biện pháp này, bên có quyền có thể chủ động thực hiện quyền của mình trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ.
Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về 9 biện pháp thực hiện nghĩa vụ, bao gồm: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu, bảo lãnh, tín chấp và giữ tài sản. Trong đó, khác với các biện pháp còn lại, bảo lãnh là một biện pháp bảo đảm đối nhân. So với Bộ luật dân sự năm 2005, tại bộ luật hiện hành, quy định về bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ đã được sửa đổi, bổ sung theo hướng ngày càng hoàn thiện, giúp lợi ích của bên có quyền được bảo đảm chặt chẽ hơn. Xuất phát từ điều đó, chúng ta cần có sự nghiên cứu có hệ thống hơn để làm rõ quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 đối với bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ. Việc tìm hiểu kỹ lưỡng về biện pháp bảo đảm này sẽ giúp cho chủ thể có quyền khi áp dụng biện pháp bảo lãnh để bảo vệ quyền lợi của mình trong thực tế có cách giải quyết đúng luật trong trường hợp bên có nghĩa vụ có hành vi vi phạm.
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN
1.1. Khái niệm, đặc điểm của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
1.1.1. Khái niệm
Biện pháp được hiểu là cách thức để các chủ thể sử dụng khi xác lập và thực hiện nghĩa vụ dân sự nhằm bảo đảm cho nghĩa vụ chính được thực hiện.
Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là các biện pháp do pháp luật quy định hoặc do các bên thỏa thuận xác lập, nhằm thúc đẩy người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ của mình vì lợi ích của bên có quyền, đồng thời tạo điều kiện cho bên có quyền trực tiếp thực hiện quyền của mình trong trường hợp người có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ bằng cách dựa vào luật hoặc dựa vào sự thỏa thuận của các bên để sáp nhập vào nghĩa vụ chính một nghĩa vụ bổ sung.
1.1.2. Đặc điểm
Thứ nhất, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ sự thỏa thuận của các bên hoặc do pháp luật quy định.
Trong một giao dịch dân sự, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ không mặc nhiên phát sinh mà có thể phát sinh dựa trên thỏa thuận của các bên. Pháp luật không quy định biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ này bắt buộc phải áp dụng vào một giao dịch cụ thể nào đó.
Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về 9 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ1. Ngoại trừ biện pháp cầm giữ tài sản phát sinh trên cơ sở luật định, các biện pháp còn lại đều có thể phát sinh dựa trên sự thỏa thuận của các bên.
Thứ hai, nghĩa vụ trong quan hệ bảo đảm mang tính chất bổ sung cho nghĩa vụ chính.
Các biện pháp bảo đảm phát sinh trên cơ sở các bên chủ thể tham gia giao dịch dân sự xác định, thỏa thuận với nhau về nghĩa vụ cần bảo đảm là nghĩa vụ nào và bảo đảm nghĩa vụ này như thế nào. Do đó, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được coi là nghĩa vụ phụ, phát sinh từ nghĩa vụ chính, nghĩa vụ được bảo đảm, nó không tồn tại độc lập mà phụ thuộc vào nghĩa vụ chính (trừ trường hợp đặt cọc).
Hiệu lực của các biện pháp bảo đảm cũng phụ thuộc vào hiệu lực của quan hệ nghĩa vụ mà nó cần bảo đảm. Thế nhưng, không phải trong mọi trường hợp, khi nghĩa vụ chính bị tuyên vô hiệu hay chấm dứt thì nghĩa vụ phụ cũng chấm dứt. Chẳng hạn, trong trường hợp một trong hai bên, hoặc cả hai bên trong quan hệ nghĩa vụ đã thực hiện được một phần hay toàn bộ nghĩa vụ của mình, thì dù cho nghĩa vụ cần bảo đảm bị tuyên vô hiệu thì biện pháp bảo đảm vẫn có hiệu lực. Khi đó, sẽ phát sinh thêm các nghĩa vụ khác như nghĩa vụ hoàn lại, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại,…
Ví dụ, A và B thực hiện một hợp đồng mua bán tài sản, trong đó A là bên bán còn B là bên mua. Để đảm bảo nghĩa vụ trả tiền của B, B đã lựa chọn một trong các biện pháp bảo đảm, trong đó vật bảo đảm là tài sản X. Nếu hợp đồng mua bán tài sản của A và B bị vô hiệu, nhưng B đã thực hiện nghĩa vụ của mình là giao tài sản X cho A, thì biện pháp bảo đảm liên quan tới tài sản X không đương nhiên bị tuyên vô hiệu. Bên A phát sinh nghĩa vụ phải trả lại tài sản X cho B, bên cạnh đó phải bồi thường thiệt hại (nếu có).
Thứ ba, biện pháp bảo đảm là các biện pháp mang tính dự phòng.
Biện pháp bảo đảm có ý nghĩa tạo điều kiện cho bên có quyền trực tiếp thực hiện quyền của mình trong trường hợp người có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ, tức là khi có hành vi vi phạm xảy ra. Trong trường hợp người có nghĩa vụ thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ của mình thì có thể biện pháp bảo đảm không cần thiết phải được sử dụng, nên nó chỉ mang tính dự phòng.
Thứ tư, đối tượng của các biện pháp bảo đảm là những lợi ích vật chất.
Lợi ích vật chất là đối tượng chủ yếu của các biện pháp bảo đảm. Nghĩa vụ cần được bảo đảm là nghĩa vụ mang tính chất tài sản, nên đối tượng của các biện pháp bảo đảm cũng phải mang tính tài sản. Bởi chỉ có lợi ích vật chất hoặc tài sản mới khấu trừ được lợi ích vật chất bị mất mát, thiệt hại.
Lợi ích vật chất trong các giao dịch bảo đảm là các tài sản bảo đảm. Tuy nhiên, trong Bộ luật dân sự 2015 có quy định về biện pháp bảo đảm khác mà đối tượng của các biện pháp này không phải là tài sản. Đó là tín chấp, theo đó tổ chức chính trị – xã hội ở cơ sở có thể bảo đảm bằng tín chấp cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay một khoản tiền tại tổ chức tín dụng để sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng theo quy định của pháp luật[1]. Đối tượng của biện pháp này là uy tín của tổ chức chính trị – xã hội ở cơ sở.
Không phải tài sản nào cũng có thể trở thành tài sản bảo đảm trong các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Để trở thành tài sản bảo đảm, tài sản phải đáp ứng được một số điều kiện:
- Tài sản phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm (trừ trường hợp cầm giữ hoặc bảo lưu quyền sở hữu).
- Tài sản có thể mô tả chung, nhưng phải xác định được.
- Tài sản đó không bị luật cấm giao dịch.
- Giá trị của tài sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm.
Đây chỉ là các điều kiện chung, với từng biện pháp bảo đảm cụ thể sẽ có thêm những điều kiện riêng khác mà chỉ khi tài sản đáp ứng đầy đủ tất cả các điều kiện mới có thể trở thành tài sản bảo đảm.
Thứ năm, các biện pháp bảo đảm vừa mang tính chất đối nhân, vừa mang tính chất đối vật.
Để lợi ích của người có quyền được đảm bảo, không chỉ thông qua các quyền của mình đối với tài sản bảo đảm mà còn phải qua hành vi của người có nghĩa vụ. Họ phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình, kể cả nghĩa vụ chính và nghĩa vụ phụ để đảm bảo quyền lợi cho chủ thể có quyền.
Thứ sáu, phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm do các bên tự thỏa thuận hoặc do luật định. Nếu các bên không có thỏa thuận cũng như pháp luật không có quy định, thì nghĩa vụ coi như được đảm bảo toàn bộ, kể cả nghĩa vụ trả lãi, tiền phạt và bồi thường thiệt hại.[2]
1.2. Phân loại các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
Căn cứ vào tính chất của các bảo đảm, ta có thể chia các biện pháp bảo đảm thành hai nhóm: biện pháp bảo đảm đối nhân và biện pháp bảo đảm đối vật.
Bảo đảm đối nhân là việc một chủ thể bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với người có quyền. Nói cách khác, bảo đảm đối nhân là việc người có quyền thông qua quan hệ nghĩa vụ áp đặt quyền của mình lên một chủ thể có nghĩa vụ.
Bảo đảm đối vật là việc bên bảo đảm dùng một hoặc nhiều tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của mình trước một bên có quyền. Trong trường hợp người có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ thì tài sản bảo đảm sẽ được xử lý theo các phương thức khác nhau
[1] Điều 344, Bộ luật dân sự năm 2015.
[2] Xem khoản 1, Điều 293 Bộ luật dân sự năm 2015.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
[Tiểu luận 2022] Bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 100.000 VNĐ (.docx)