THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 34 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0002.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2024] Bình luận, cho ví dụ về quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia trong tư pháp quốc tế 3 binh luan cho vi du ve quyen mien tru tu phap cua quoc gia trong tu phap quoc te 3](https://bunny-wp-pullzone-evwxkqab4s.b-cdn.net/wp-content/uploads/2024/02/binh-luan-cho-vi-du-ve-quyen-mien-tru-tu-phap-cua-quoc-gia-trong-tu-phap-quoc-te-3.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ BÀI | 1 |
| CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN MIỄN TRỪ TƯ PHÁP CỦA QUỐC GIA | 2 |
| 1.1. Nội dung cơ bản về quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia | 2 |
| 1.2. Quốc gia - chủ thể đặc biệt trong quan hệ tư pháp quốc tế | 2 |
| 1.2.1. Khái niệm quốc gia | 2 |
| 1.2.2. Tính chất đặc biệt của quốc gia | 3 |
| 1.2.3. Chủ thể được hưởng quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia | 3 |
| 1.3. Các mô hình miễn trừ phổ biến trên thế giới | 4 |
| CHƯƠNG 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN MIỄN TRỪ TƯ PHÁP CỦA QUỐC GIA TRONG CÔNG ƯỚC UNJISP 2004 | 6 |
| 2.1. Chủ thể được hưởng quyền miễn trừ tư pháp | 6 |
| 2.2. Nội dung của quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia | 6 |
| 2.2.1. Quyền miễn trừ xét xử | 6 |
| 2.2.2. Quyền miễn trừ đối với các biện pháp đảm bảo sơ bộ cho vụ kiện liên quan đến quốc gia | 7 |
| 2.2.3. Quyền miễn trừ về thi hành án | 8 |
| 2.3. Phân tích ví dụ liên quan | 9 |
| CHƯƠNG 3: QUYỀN MIỄN TRỪ TƯ PHÁP CỦA QUỐC GIA THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM | 12 |
| 3.1. Nội dung quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia theo pháp luật Việt Nam | 12 |
| 3.2. Trường hợp từ bỏ quyền miễn trừ tư pháp của Nhà nước Việt Nam | 14 |
| 3.3. Phân tích ví dụ liên quan | 15 |
| 3.4. Phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia trong tư pháp quốc tế | 17 |
| KẾT LUẬN | 18 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 19 |
| PHỤ LỤC | 22 |
| 4.1. Hai học thuyết gắn liền với sự ra đời, phát triển của quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia | 22 |
| 4.2. Các trường hợp loại trừ quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia theo Công ước UNJISP 2004 | 22 |
| 4.3. Điều 18 và Điều 19 Công ước UNJISP 2004 | 26 |
| 4.4. Phân tích vụ án (cụ thể là quyền miễn trừ tư pháp tại Nhật Bản) | 28 |
LỜI MỞ ĐẦU
Quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia là một chế định có sự đan xen giữa công pháp quốc tế và tư pháp quốc tế, là một đặc quyền của quốc gia khi tham gia những quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, Nhà nước nước ngoài sẽ không phải chịu thẩm quyền tài phán của Tòa án quốc gia sở tại. Trong tình hình bối cảnh hiện nay, việc xem xét sự thay đổi, phát triển của chế định miễn trừ tư pháp trên thế giới nhằm “hòa mình vào dòng chảy chung” là cần thiết để bảo vệ cá nhân, pháp nhân của nước mình và thậm chí bảo vệ ngay bản thân quốc gia. Do vậy, với những lí do trên, nhóm chọn Đề 6: Bình luận, cho ví dụ về quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia trong tư pháp quốc tế.
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN MIỄN TRỪ TƯ PHÁP CỦA QUỐC GIA
1.1. Nội dung cơ bản về quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia
Quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia được hiểu là quốc gia khi tham gia vào các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài với các cá nhân, cơ quan, tổ chức sẽ không chịu sự tài phán của Tòa án quốc gia khác trong quá trình giải quyết vụ việc phát sinh từ quan hệ có yếu tố nước ngoài trên nếu không được sự chấp thuận của quốc gia[1].
Tương ứng với 3 giai đoạn của quá trình tố tụng, quyền MTTP của quốc gia bao gồm quyền miễn trừ đối với biện pháp đảm bảo sơ bộ, quyền miễn trừ xét xử và quyền miễn trừ đối với các biện pháp bảo đảm thi hành án. Theo đó, tòa án nước ngoài không được áp dụng biện pháp cưỡng chế bảo đảm sơ bộ, không được xét xử hoặc thi hành bản án nhằm chống lại quốc gia khác nếu không có sự cho phép của quốc gia đó. Bên cạnh đó, quyền miễn trừ về tài sản gắn liền với quyền MTTP, được hiểu là nếu không có sự đồng ý của quốc gia thì không có một cơ quan nào, tổ chức nào được bắt giữ, tịch thu, bán đấu giá… đối với tài sản của quốc gia đó.
Trên đây chỉ là những nội dung cơ bản nhất về quyền MTTP của quốc gia, còn cụ thể quy định, phạm vi các quyền này lại phụ thuộc vào mô hình mà ĐƯQT hoặc đạo luật về quyền MTTP theo đuổi và những điều kiện khác.
1.2. Quốc gia – chủ thể đặc biệt trong quan hệ tư pháp quốc tế
1.2.1. Khái niệm quốc gia
Xét dưới góc độ pháp lý, có thể nhận diện một thực thể mang danh nghĩa quốc gia theo các tiêu chí tại Điều 1 Công ước Montevideo 1933: (i) Có dân cư cư trú thường xuyên; (ii) Có lãnh thổ được xác định; (iii) Có Chính phủ; (iv) Có khả năng tham gia vào các quan hệ với các chủ thể quốc tế khác. Khi có đầy đủ những yếu tố trên, một thực thể sẽ được xem như là một quốc gia.
1.2.2. Tính chất đặc biệt của quốc gia
Gọi quốc gia là chủ thể “đặc biệt” trong tư pháp quốc tế vì 2 lí do: Một là, quốc gia tham gia rất ít vào các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của TPQT; Hai là, do “tính chất đặc biệt” của mình nên khi tham gia vào các quan hệ TPQT với cá nhân và pháp nhân, trong một số trường hợp quốc gia sẽ được hưởng quyền MTTP.
Vậy “tính chất đặc biệt” của quốc gia là gì? Đó chính là chủ quyền quốc gia – thuộc tính chính trị pháp lý không thể tách rời của quốc gia. Người dân trao cho Nhà nước quyền lực của mình, đổi lại Nhà nước bảo vệ người dân, do vậy chủ quyền quốc gia, về cơ bản là tuyệt đối và không thể thách thức (quan điểm về thỏa ước xã hội). “Nhà vua không bao giờ sai”, do vậy mỗi quốc gia trên lãnh thổ của mình đều là tuyệt đối và bất khả xâm phạm. Với tính chất như vậy thì “Những kẻ ngang nhau không có quyền xét xử nhau”. Chủ quyền quốc gia là bất khả xâm phạm, các quốc gia có chủ quyền đều bình đẳng với nhau và không quốc gia nào có quyền đứng trên để phán xét tính đúng sai hành vi của quốc gia khác, do vậy các quốc gia không có quyền xét xử nhau. Tổng kết lại, chủ quyền quốc gia và nguyên tắc bình đẳng chủ quyền chính là nhân tố tạo nên “tính chất đặc biệt” của quốc gia.
1.2.3. Chủ thể được hưởng quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia
Nói chủ thể của quyền MTTP là quốc gia có chủ quyền, vấn đề là trong các mối quan hệ TPQT, khái niệm “quốc gia” lại quá trừu tượng, khó có thể thấy một QHDS cụ thể có sự hiện diện của “quốc gia” với đầy đủ cả 4 yếu tố nói trên. Như vậy, khái niệm “quốc gia” được hưởng quyền MTTP của quốc gia phải là những cá nhân hay tổ chức cụ thể, những chủ thể mang trong mình tính cách quốc gia, có thể dựa vào một vài căn cứ để xác định chủ thể có hay không được hưởng quyền MTTP: 1) Chủ thể đó có thực thi chức năng công khi tham gia quan hệ hay không; 2) Chủ thể đó có liên quan về mặt tổ chức với Nhà nước của quốc gia nước ngoài không; 3) Cái gọi là quốc gia nước ngoài đó có thực sự là một quốc gia không.
1.3. Các mô hình miễn trừ phổ biến trên thế giới
Gắn liền với sự hình thành và phát triển quyền MTTP của quốc gia là 2 học thuyết: Thuyết miễn trừ tuyệt đối và thuyết miễn trừ tương đối. Điểm khác biệt giữa hai thuyết này là căn cứ để được hưởng quyền miễn trừ. Ở thuyết miễn trừ tuyệt đối, quyền MTTP được công nhận chủ yếu dựa trên tư cách chủ thể mang tính cách chủ quyền quốc gia, tức khi một thực thể mang danh nghĩa quốc gia tham gia vào một QHDS có yếu tố nước ngoài với thể nhân, pháp nhân thì mặc nhiên được hưởng quyền MTTP trong mọi trường hợp. Còn ở thuyết miễn trừ tương đối, việc quốc gia được hưởng quyền MTTP phụ thuộc vào giao dịch mà nó tham gia và bị kiện. Nếu quốc gia thực hiện hành vi mang bản chất chủ quyền, hành vi công thì sẽ được hưởng quyền MTTP, nếu thực hiện hành vi hoặc giao dịch mang bản chất thương mại thì sẽ không được hưởng quyền MTTP. Quy tắc tương tự được áp dụng đối với tài sản của quốc gia. Để đánh giá tính chất của hành vi, các quốc gia thường dựa trên 2 tiêu chí cơ bản: tiêu chí mục đích và tiêu chí bản chất hành vi, tuy nhiên theo xu hướng hiện nay chủ yếu áp dụng tiêu chí bản chất hành vi[2].
Tuy nhiên, cần lưu ý 2 vấn đề chính:
Thứ nhất, mặc dù quyền MTTP của quốc gia đều được các quốc gia thừa nhận, tuy nhiên không phải trong mọi trường hợp đều đặt ra vì bản chất “miễn trừ tư pháp” là việc quốc gia nước ngoài không phải chịu thẩm quyền tài phán của tòa án quốc gia nước sở tại, nên việc được hưởng quyền MTTP hay không phụ thuộc vào pháp luật quốc gia sở tại hoặc ĐƯQT mà quốc gia sở tại tham gia. Do vậy, việc quốc gia nước ngoài có chấp nhận từ bỏ quyền MTTP của mình không trong những trường hợp họ không được hưởng quyền MTTP ở tòa án nước sở tại là không quan trọng. Trên thực tế, với xu hướng thừa nhận thuyết miễn trừ tương đối, đạo luật về MTTP của nhiều quốc gia cũng như các ĐƯQT đa phương đều quy định quốc gia khi tham gia vào những QHDS nhất định sẽ không được hưởng quyền MTTP.
Thứ hai, quyền miễn trừ xét xử, quyền miễn trừ đối với biện pháp bảo đảm sơ bộ cho vụ kiện hay quyền miễn trừ thi hành án là những nội dung độc lập của quyền MTTP của quốc gia, do đó trường hợp quốc gia từ bỏ một quyền không có nghĩa là quốc gia từ bỏ các quyền còn lại, việc quốc gia có từ bỏ các quyền còn lại không, phải được họ thể hiện. Trường hợp quốc gia từ bỏ quyền miễn trừ tài phán hoặc không được viện dẫn quyền miễn trừ xét xử thì tòa án quốc gia nước ngoài cũng không thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với tài sản của quốc gia.
CHƯƠNG 2:
CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN MIỄN TRỪ TƯ PHÁP CỦA QUỐC GIA TRONG CÔNG ƯỚC UNJISP 2004
2.1. Chủ thể được hưởng quyền miễn trừ tư pháp
Theo điểm b Khoản 1 Điều 2 về Giải thích thuật ngữ trong Công ước UNJISP, thuật ngữ “quốc gia” được hiểu bao gồm:
(i) Quốc gia và các cơ quan của chính phủ;
(ii) Các đơn vị hợp thành một quốc gia liên bang hoặc các đặc khu chính trị của quốc gia để thực hiện chủ quyền quốc gia;
(iii) Các cơ quan của quốc gia hoặc các chủ thể khác có quyền tiến hành hoặc đang tiến hành các hoạt động thực tế để thực hiện chủ quyền của quốc gia;
(iv) Các cơ quan đại diện cho quốc gia.
[1] Nguyễn Thu Thủy (2012), Quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia trong tư pháp quốc tế, luận văn thạc sĩ luật học, trường Đại học Luật Hà Nội, tr.4.
[2] Tham khảo thêm tại Phụ lục.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 150.000 VNĐ (.docx)