THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 42 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0114.
- Pháp luật áp dụng: Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2024] Các trường hợp cấm kết hôn theo quy định của pháp luật hiện hành? Một số vấn đề lý luận và thực tiễn? 3 B0114 cac truong hop cam ket hon theo quy dinh cua phap luat hien hanh 3](https://tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2024/02/B0114-cac-truong-hop-cam-ket-hon-theo-quy-dinh-cua-phap-luat-hien-hanh-3.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| 1. Tính cấp thiết của đề tài | 1 |
| 2. Mục tiêu nghiên cứu | 1 |
| 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu | 2 |
| 4. Phương pháp nghiên cứu | 2 |
| 5. Kết cấu của đề tài | 2 |
| CHƯƠNG 1: SƠ LƯỢC VỀ CÁC TRƯỜNG HỢP CẤM KẾT HÔN THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH | 3 |
| 1.1. Kết hôn và điều kiện kết hôn | 3 |
| 1.2. Sơ lược về các trường hợp cấm kết hôn | 4 |
| CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CÁC TRƯỜNG HỢP CẤM KẾT HÔN DƯỚI GÓC ĐỘ LÝ LUẬN VÀ LUẬT SO SÁNH | 6 |
| 2.1. Quy định pháp luật về trường hợp cấm kết hôn | 6 |
| 2.1.1. Kết hôn giả tạo | 6 |
| 2.1.2. Tảo hôn, cưỡng ép, lừa dối, cản trở kết hôn | 6 |
| 2.1.3. Kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng | 9 |
| 2.1.4. Kết hôn giữa người đang có vợ, có chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ | 9 |
| 2.1.5. Các trường hợp cấm kết hôn khác | 10 |
| 2.2. Phương thức xử lý | 11 |
| 2.2.1. Căn cứ hủy bỏ kết hôn trái pháp luật | 11 |
| 2.2.2. Người có quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật | 11 |
| 2.2.3. Cơ quan có thẩm quyền | 12 |
| 2.2.4. Xử lý hành chính, hình sự | 12 |
| 2.2.5. Hệ quả pháp lý | 12 |
| 2.3. So sánh pháp luật các quốc gia trên thế giới | 13 |
| 2.3.1. Đạo luật Defense of Marriage Act (DOMA) năm 1990 theo pháp luật Hoa Kỳ | 13 |
| 2.3.2. Đạo luật Cấm kết hôn ở trẻ em năm 2005 theo pháp luật Ấn Độ | 15 |
| 2.3.3. Đạo luật Cấm kết hôn đồng giới năm 2013 theo pháp luật Nigeria | 18 |
| 2.3.4. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam từ pháp luật một số quốc gia trên thế giới | 20 |
| CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CÁC TRƯỜNG HỢP CẤM KẾT HÔN VÀ PHƯƠNG HƯỚNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN, NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT | 21 |
| 3.1. Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật Việt Nam về các trường hợp cấm kết hôn | 21 |
| 3.1.1. Tình hình áp dụng quy định pháp luật về trường hợp cấm kết hôn từ năm 2015 đến nay | 21 |
| 3.1.2 Phân tích Bản án số 03/2019/HNGĐ-ST của Tòa án nhân dân Thành phố Lào Cai về việc hủy kết hôn trái pháp luật, tranh chấp nuôi con | 25 |
| 3.2. Những bất cập trong việc áp dụng quy định pháp luật Việt Nam về các trường hợp cấm kết hôn | 27 |
| 3.2.1. Về quy định pháp luật | 28 |
| 3.2.2. Về thực tiễn | 29 |
| 3.3. Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về các trường hợp cấm kết hôn | 31 |
| 3.3.1. Hoàn thiện quy định pháp luật về các trường hợp cấm kết hôn | 31 |
| 3.3.2. Đề xuất giải pháp khắc phục các bất cập trong thực tiễn | 32 |
| KẾT LUẬN | 34 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 35 |
LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình là một tổ chức đời sống cộng đồng của con người, là một phần quan trọng cấu thành nên xã hội, sự phát triển của gia đình và xã hội luôn tỷ lệ thuận với nhau. Theo đó, quan hệ hôn nhân chính là tiền đề hình thành nên gia đình và là quan hệ được xác lập dựa trên việc kết hôn theo quy định của pháp luật.
Việc quy định các điều kiện về kết hôn là nhằm bảo vệ các chủ thể trong quan hệ vợ chồng, cũng như tạo cơ chế giải quyết các tranh chấp, cũng như quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng, con cái có thể phát sinh trước, trong và sau thời kỳ hôn nhân. Mặt khác, pháp luật cũng quy định đồng thời các trường hợp cấm kết hôn để đảm bảo về các nguyên tắc cơ bản của việc kết hôn, về sức khỏe, gìn giữ những thuần phong mỹ tục, duy trì trật tự ở trong gia đình và xã hội.
Tuy nhiên, xét về mặt lý luận và thực tiễn khi áp dụng các quy định pháp luật về trường hợp cấm kết hôn theo Luật HNGĐ 2014, có thể thấy hiệu quả áp dụng còn hạn chế dẫn đến những trường hợp vi phạm vẫn còn đang diễn ra. Do đó, nhóm thực hiện đã chọn đề tài “Các trường hợp cấm kết hôn theo quy định của pháp luật hiện hành – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” để làm rõ các nội dung về vấn đề trên.
Mục tiêu nghiên cứu
Áp dụng các phương pháp nghiên cứu để tiến hành phân tích nội dung quy định về các trường hợp cấm kết hôn và quy định xử phạt theo pháp luật hiện hành. Đồng thời, thực hiện so sánh quy định pháp luật Việt Nam hiện hành với một số quốc gia trên thế giới.
Dựa vào nội dung lý luận, tiến hành đánh giá hiệu quả việc áp dụng các quy định pháp luật trên thực tiễn để nhận thấy được những bất cập còn tồn đọng. Từ đó, đưa ra góc nhìn khách quan, kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật và giải pháp khắc phục những hạn chế nêu trên. Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật, chỉ ra những bất cập và thiếu sót của việc áp dụng các quy định pháp luật, đưa ra một số giải pháp, kiến nghị góp phần hoàn thiện các quy định về cấm kết hôn và hạn chế những bất cập trong thực tiễn.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các trường hợp cấm kết hôn được quy định trong Luật HNGĐ 2014 và các văn bản hướng dẫn liên quan, thực tiễn áp dụng qua các trường hợp, bản án cụ thể.
Phạm vi nghiên cứu: Các trường hợp cấm kết hôn trong Luật HNGĐ 2014, tham chiếu với các văn bản pháp luật trước đây cũng như tìm hiểu các quy định của pháp luật nước ngoài để làm rõ những nội dung cần nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài áp dụng các phương pháp sau: Thống kê, so sánh, phân tích, đánh giá, tổng hợp và khảo sát thực tiễn nhằm có những góc nhìn ở nhiều khía cạnh khác nhau trong phạm vi đề tài.
Kết cấu của đề tài
Nội dung đề tài bao gồm 03 chương:
Chương 1: Sơ lược về các trường hợp cấm kết hôn theo quy định pháp luật hiện hành;
Chương 2: Quy định của pháp luật hiện hành về các trường hợp cấm kết hôn dưới góc độ lý luận và luật so sánh;
Chương 3: Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật Việt Nam về các trường hợp cấm kết hôn và phương hướng giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực hiện và áp dụng của pháp luật.
CHƯƠNG 1: SƠ LƯỢC VỀ CÁC TRƯỜNG HỢP CẤM KẾT HÔN THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
1.1. Kết hôn và điều kiện kết hôn
Khái niệm “kết hôn” ra đời có ý nghĩa quan trọng đối với pháp luật Việt Nam. Hệ thống quy định pháp luật nước ta trước năm 1945 chưa có văn bản nào nhắc đến khái niệm kết hôn. Nhưng đến Luật HNGĐ 2000 thì Khái niệm kết hôn đã được quy định tại khoản 2 Điều 8 như sau: “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”. Đến năm 2014 thì khái niệm này đã được hoàn thiện hơn với thực tiễn, theo Điều 3 Luật HNGĐ quy định về khái niệm “kết hôn” như sau: “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”.
Qua những thay đổi về kinh tế và xã hội, việc điều kiện kết hôn được quy định trong Luật HNGĐ năm 2000 và năm 2014[1] đã hoàn thiện hơn các quy định về điều kiện kết hôn để phù hợp với xã hội hiện tại.
Theo đó, pháp luật hiện hành quy định điều kiện để kết hôn dựa trên 04 căn cứ chính: (i) Độ tuổi; (ii) Nhận thức; (iii) Sự tự nguyện và (iv) Không thuộc trường hợp cấm kết hôn theo quy định. Có thể thấy, các trường hợp cấm kết hôn là một trong bốn tiêu chí quan trọng xác định điều kiện kết hôn về mặt nội dung giữa các chủ thể.
Bên cạnh đó, theo khoản 2 Điều 8 Luật HNGĐ 2014: “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.” Nhìn chung, quy định này mang tính trung lập, không thể hiện rõ ý chí là cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính, bởi lẽ quy định về các trường hợp cấm kết hôn theo khoản 1 Điều 8 chỉ thuộc các điểm a, b, c và d, khoản 1 Điều 5. Tuy nhiên, pháp luật cũng không công nhận quan hệ trên là hợp pháp.
1.2. Sơ lược về các trường hợp cấm kết hôn
Trước khi Luật HNGĐ năm 1959 ra đời, thuật ngữ “cấm không được kết hôn” hoặc “không được kết hôn” được sử dụng như thuật ngữ “cấm kết hôn” hiện hành. Đến các Luật HNGĐ năm 1986, 2000 và 2014 thì các thuật ngữ trước đó đã được thay hoàn toàn bằng thuật ngữ “cấm kết hôn” trong các trường hợp pháp luật không cho phép nam nữ kết hôn. Cụ thể tại điểm d, khoản 1 Điều 8 Luật HNGĐ 2014 có ghi nhận thuật ngữ “cấm kết hôn”.
Hiện tại, pháp luật chưa có quy định cụ thể về khái niệm cấm kết hôn. Tuy nhiên có thể rút ra rằng, “cấm kết hôn” là việc không cho phép nam và nữ kết hôn trong một số trường hợp theo quy định của pháp luật. Việc cấm kết hôn dựa trên cơ sở tư tưởng, đạo đức xã hội, trật tự vốn có trong gia đình hiện nay.
Việc cấm kết hôn ở Việt Nam được quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật HNGĐ 2014, bao gồm 05 trường hợp: “(i) Kết hôn giả tạo; (ii) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn; (iii) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ; (iv) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng”.
Hành vi vi phạm các trường hợp cấm kết hôn tại điểm d, Khoản 1 Điều 8 là vi phạm điều kiện kết hôn về mặt nội dung. Do đó, các quan hệ hôn nhân thuộc các trường hợp cấm kết hôn theo quy định có thể rơi vào hai trường hợp kết hôn trái pháp luật khi kết hôn không đáp ứng điều kiện về mặt nội dung; hoặc không công nhận quan hệ vợ chồng khi một người đăng ký kết hôn không đáp ứng điều kiện về nội dung và không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo Điều 9 Luật HNGĐ 2014 để thỏa mãn điều kiện về mặt hình thức.
Nhìn chung, so với Luật HNGĐ 2000, các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại Luật HNGĐ 2014 có phần được cụ thể hơn, như tại điểm c, Khoản 2 Điều 5 đã làm rõ trường hợp cấm kết hôn giữa “Người đang có vợ hoặc có chồng” của Luật HNGĐ 2000 thành “Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ”. Đây là một bổ sung quan trọng góp phần làm rõ các “vùng xám” trong quy định pháp luật
[1] Điều 8 Luật HNGĐ 2014.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 100.000 VNĐ (.docx)