THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 22 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0099.
- Pháp luật áp dụng: Luật Thương mại năm 2005.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2024] Chế tài phạt vi phạm hợp đồng theo Luật Thương mại 2005 (9.25 điểm) (MS-B0099) 2 B0099 che tai phat vi pham hop dong theo luat thuong mai nam 2005 2](https://tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2024/02/B0099-che-tai-phat-vi-pham-hop-dong-theo-luat-thuong-mai-nam-2005-2.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRONG LUẬT THƯƠNG MẠI NĂM 2005 | 3 |
| 1.1. Khái quát về các chế tài trong thương mại. | 3 |
| 1.2. Quy định pháp luật về chế tài phạt vi phạm hợp đồng | 3 |
| 1.2.1. Khái niệm và đặc điểm chế tài phạt vi phạm hợp đồng | 3 |
| 1.2.2. Điều kiện áp dụng chế tài phạt vi phạm | 3 |
| 1.2.3. Mức phạt vi phạm | 4 |
| 1.2.4. Mối quan hệ với các chế tài khác | 5 |
| CHƯƠNG 2: GÓC NHÌN CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM QUA NGUYÊN TẮC LẤP KHOẢNG TRỐNG CỦA CISG | 7 |
| 2.1. CISG là gì? | 7 |
| 2.2. Nguyên tắc lấp khoảng trống của CISG để giải quyết về việc phạt vi phạm | 8 |
| CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRONG LUẬT THƯƠNG MẠI 2005 | 10 |
| 3.1. Những điểm bất cập trong chế tài phạt vi phạm trong quy định Luật thương mại 2005 | 10 |
| 3.1.1. Phải có thỏa thuận thì chế tài phạt vi phạm mới có hiệu lực | 10 |
| 3.1.2. Áp dụng mức phạt vi phạm trong các trường hợp cụ thể | 11 |
| 3.1.3. Xác định phần nghĩa vụ bị vi phạm | 12 |
| 3.2. Phân tích tình huống pháp luật | 12 |
| 3.2.1 Tóm tắt tình huống (Bản án số 02/2014/KDTM-ST ngày 14/01/2014 của TAND quận X TP. HCM) | 12 |
| 3.2.2. Giải quyết các yêu cầu của công ty Tân Đại | 13 |
| 3.3. Đề xuất, kiến nghị hoàn thiện | 15 |
| 3.3.1. Bổ sung thỏa thuận phạt vi phạm sau khi giao kết hợp đồng | 15 |
| 3.3.2. Quy định mức phạt phù hợp từng trường hợp và nền kinh tế hiện nay | 15 |
| 3.3.3. Quy định cụ thể cách xác định phần nghĩa vụ bị vi phạm | 16 |
| 3.3.4. Nâng cao công tác phổ cập quy định pháp luật | 16 |
| KẾT LUẬN | 17 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 18 |
LỜI MỞ ĐẦU
Sau 30 năm tiến hành cải cách và phát triển, nền kinh tế Việt Nam đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ theo phương hướng thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, đạt được nhiều kết quả quan trọng. Trong đó, ngành kinh tế tự cung tự cấp truyền thống đang dần bị thay thế bởi các giao dịch thương mại hàng hóa điện tử từ những đơn hàng nhỏ lẻ cho đến các hợp đồng xuất nhập khẩu hàng hóa có giá trị lớn, xuyên quốc gia. Trong thời điểm Covid-19 diễn biến ngày càng phức tạp, các giao dịch thương mại điện tử giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc giữ cho chuỗi cung ứng không bị đứt gãy, gián đoạn. Để tạo điều kiện cho hoạt động thương mại nói chung và các giao dịch điện tử nói riêng phát triển, pháp luật về thương mại, hàng hóa dịch vụ đã không ngừng được hoàn thiện, khắc phục những điểm còn yếu kém,đồng thời tạo ra một môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp tự do kinh doanh.
Tuy nhiên, sự tự do phát triển kinh doanh cũng làm cho một số doanh nghiệp lợi dụng những kẽ hở trong hợp đồng đã ký kết để cố tình vi phạm hoặc lờ đi những gì đã giao kết. Về phía doanh nghiệp bị vi phạm hợp đồng, rất ít doanh nghiệp áp dụng các hình thức xử lý vi phạm hợp đồng như đã thỏa thuận. Mặt khác, một số doanh nghiệp chưa có sự đầu tư về mặt pháp lý đối với các hợp đồng mua bán hàng hóa, chưa thực sự hiểu về chế tài thương mại được pháp luật quy định. Các vụ việc vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa xảy ra càng nhiều, dẫn đến số tranh chấp giữa các doanh nghiệp cũng tăng theo. Vì vậy, việc đặt ra các biện pháp, chế tài để xử lý, ngăn chặn hành vi vi phạm hợp đồng là vô cùng quan trọng.
Việc nghiên cứu về chế tài phạt vi phạm hợp đồng đã có nhiều tác giả nghiên cứu với những ý kiến, góc độ khác nhau. Trong phạm vi giới hạn của mình, qua Đề tài “Chế tài phạt vi phạm hợp đồng theo Luật Thương mại năm 2005” nhóm nghiên cứu tập trung nghiên cứu, phân tích và làm rõ các nội dung quy định của pháp luật ở Việt Nam về việc áp dụng chế tài phạt vi phạm hợp đồng. Trong đó, nhóm chia nội dung thành 03 chương bao gồm các nội dung như khái quát về chế tài trọng tài thương mại; khái niệm, điều kiện áp dụng, mức phạt vi phạm và mối quan hệ với các chế tài khác của chế tài phạt vi phạm hợp đồng; góc nhìn của chế tài phạt vi phạm qua nguyên tắc lập khoảng trống của CISG. Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu thông qua thực tiễn áp dụng và tình huống pháp luật liên quan để nhận định một số điểm còn bất cập của chế tài phạt vi phạm theo quy định của Luật Thương mại 2005. Cuối cùng, nhóm đề xuất một số kiến nghị, giải pháp để hoàn thiện hơn trong việc áp dụng chế tài phạt vi phạm hợp đồng.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRONG LUẬT THƯƠNG MẠI NĂM 2005
1.1. Khái quát về các chế tài trong thương mại
Chế tài trong hoạt động thương mại là các biện pháp pháp lý mà Luật Thương mại 2005 cho phép một bên áp dụng đối với bên kia trong hợp đồng thương mại nhằm yêu cầu bên đó chịu trách nhiệm pháp lý cho hành vi vi phạm hợp đồng của mình. Trong đó bao gồm các loại chế tài: “Buộc thực hiện đúng hợp đồng, phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại, tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng và các biện pháp khác pháp luật quy định.”[1]
1.2. Quy định pháp luật về chế tài phạt vi phạm hợp đồng
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm chế tài phạt vi phạm hợp đồng
Nhằm bảo vệ các bên trong hợp đồng, Luật Thương mại 2005 đã ra quy định về phạt vi phạm tại Điều 300 như sau: “Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận, trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này”. Trong điều luật này, chủ thể có quyền được nhận khoản tiền do vi phạm hợp đồng là bên bị vi phạm, chủ thể có nghĩa nghĩa vụ bồi thường là bên vi phạm và khách thể được các bên hướng đến trong quan hệ này là khoản tiền phạt vi phạm.
Theo đó, chỉ cần một bên có hành vi vi phạm hợp đồng đã thỏa thuận, thì bên đó bắt buộc phải thực hiện chế tài phạt vi phạm, tức là trả một khoản tiền phạt đã được thỏa thuận phù hợp với các quy định của pháp luật. Kể cả trong trường hợp đối phương không có động thái yêu cầu trả tiền phạt thì bên vi phạm vẫn phải trả tiền.
1.2.2. Điều kiện áp dụng chế tài phạt vi phạm
1.2.2.1. Có thỏa thuận về phạt vi phạm
Theo Luật Thương mại 2005 quy định, chế tài phạt vi phạm chỉ xuất hiện khi trong hợp đồng có thỏa thuận về vấn đề này, do đó đây không phải là một chế tài bắt buộc phải có khi thỏa thuận các điều khoản trong hợp đồng. Những điều khoản được đặt ra trong quá trình thỏa thuận phạt vi phạm cũng phải tuân thủ hướng tới mục đích các bên thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng và sẽ không được tính là thỏa thuận phạt vi phạm nếu những điều khoản trong hợp đồng không đáp ứng được mục đích nêu trên. Phạt vi phạt thuộc nhóm chế tài áp dụng đối với vi phạm không cơ bản vì nó không phải sự vi phạm hợp đồng của một bên dẫn tới việc không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng, mà là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận.
1.2.2.2. Có hành vi vi phạm hợp đồng
Theo khoản 12 Điều 3 Luật Thương mại 2005 quy định: “Vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thoả thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật này”. Trong điều luật không quy định về mức độ thiệt hại gây ra mà chỉ nhắc đến hành vi được cho là vi phạm hợp đồng, vì vậy bên vi phạm hợp đồng phải chịu phạt chế tài ngay cả khi việc vi phạm này chưa gây ra bất cứ tổn hại nào cho bên bị vi phạm. Điều này làm cho chế tài phạt vi phạm có chức năng ngăn ngừa các bên có ý định thực hiện hành vi vi phạm hợp đồng.
1.2.3. Mức phạt vi phạm
Theo quy định tại Điều 301 Luật Thương mại năm 2005: “Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy định tại Điều 266 của Luật này”. Như vậy mức phạt vi phạm bị giới hạn ở mức 8% theo quy định tại Luật Thương mại.
Nhưng bên cạnh đó, khi đối chiếu sang Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật có phạm vi áp dụng rộng hơn, thì tại Điều 422 lại có quy định như sau: “(1) Phạt vi phạm là sự thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm; (2) Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận…”. Pháp luật Dân sự Việt Nam ưu tiên quy tắc thỏa thuận của các bên trong hợp đồng, tức là trừ trường hợp các bên không có thỏa thuận khác thì mới áp dụng quy định pháp luật. Theo như Luật Thương mại 2005 đã quy định thì các trường hợp được luật này điều chỉnh là những hợp đồng có liên quan đến hoạt động thương mại[2]. Thêm vào đó, mức phạt vi phạm được quy định là không quá 8% đối với phận bị vi phạm, vì vậy, ta cần xác định cụ thể các trường hợp vi phạm hợp đồng xảy ra thì sẽ có mức ảnh hưởng tương đương thế nào, từ đó, xác định được phần hợp đồng bị vi phạm và số tiền tương đương cần phải đưa cho bên bị vi phạm.
1.2.4. Mối quan hệ với các chế tài khác
Chế tài phạt vi phạm hợp đồng có thể kết hợp sử dụng song song với các chế tài khác như chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và chế tài buộc bồi thường thiệt hại.
Căn cứ áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng là có hành vi vi phạm, có lỗi của bên vi phạm.[3] Cụ thể, các bên phải có nghĩa vụ thực hiện đúng mục đích của hợp đồng, cho dù trong các trường hợp không thể thực hiện theo đúng các thỏa thuận đã đề ra trước đó thì bằng cách này hay cách khác vẫn phải đảm bảo mục đích của hợp đồng được hoàn thành. Ta có thể đưa ra quy định áp dụng chế tài phạt vi phạm đối với bên không thực hiện chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng. Tức là trong trường hợp một bên vi phạm chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng thì bên còn lại có quyền đòi một khoản tiền phạt từ bên vi phạm đó nếu trong hợp đồng đã được thỏa thuận.
Bên cạnh đó, các chủ thể khi giao kết hợp đồng có thể áp dụng chế tài phạt vi phạm bên cạnh bồi thường thiệt hại. Bên bị vi phạm vừa có nghĩa vụ bồi thường vừa phải trả một khoản tiền đã được quy định sẵn theo chế tài phạt vi phạm và cần đảm bảo rằng chế tài phạt vi phạm đã được các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Bên cạnh đó, đối với hai hình thức chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại chúng ta cần có sự phân biệt nếu không các chủ thể sẽ áp dụng không đúng…
[1] Điều 292 Luật Thương mại năm 2005.
[2] Hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác, khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005.
[3] Bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng các nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh, Điều 297 Luật Thương mại năm 2005.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
[Tiểu luận 2024] Chế tài phạt vi phạm hợp đồng theo Luật Thương mại năm 2005
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 100.000 VNĐ (.docx)