THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật – Đại học Huế
- Định dạng: WORD
- Số trang: 20 trang (cả bìa)
- Năm: 2021 / Mã số: B0209.
- Pháp luật áp dụng: Bộ luật Hình sự năm 2015
- Từ khóa: Công ước quốc tế/ Công ước quốc tế của Liên hợp quốc về tội phạm rửa tiền/ Liên Hợp Quốc/ Tội rửa tiền
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2021] Công ước quốc tế của Liên hợp quốc về tội phạm rửa tiền và phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam 4 B0209 cong uoc quoc te cua lien hop quoc ve toi pham rua tien 4](https://bunny-wp-pullzone-evwxkqab4s.b-cdn.net/wp-content/uploads/2024/02/B0209-cong-uoc-quoc-te-cua-lien-hop-quoc-ve-toi-pham-rua-tien-4.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ RỬA TIỀN | 3 |
| 1.1. Lịch sử hình thành và phát triển các quy định pháp lý về hành vi rửa tiền trên thế giới | 3 |
| 1.2. Quy định về rửa tiền trong một số công ước quốc tế, 40+9 khuyến nghị của FATF | 4 |
| 1.2.1. Công ước Viên năm 1988 | 4 |
| 1.2.2. Công ước Palermo năm 2000 | 5 |
| 1.2.3. Một số Công ước quốc tế khác | 6 |
| 2.4. 40+9 Khuyến nghị của Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền (FATF) | 6 |
| CHƯƠNG 2: TỘI RỬA TIỀN TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG | 8 |
| 2.1. Khái niệm rửa tiền, các yếu tố cấu thành và khung hình phạt đối với tội rửa tiền trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành | 8 |
| 2.1.1. Khái niệm rửa tiền | 8 |
| 2.1.2. Các yếu tố cấu thành tội rửa tiền | 9 |
| 2.1.3 Hình phạt đối với tội rửa tiền | 10 |
| 2.2. Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về phòng, chống rửa tiền | 10 |
| CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG RỬA TIỀN | 13 |
| KẾT LUẬN | 16 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 17 |
LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế toàn cầu hóa, “rửa tiền” không còn là một thuật ngữ mới mẻ. Trên thực tế, hoạt động rửa tiền đã bùng nổ ở nhiều quốc gia gây ra những hậu quả nghiêm trọng về kinh tế – xã hội, đặc biệt ở các nước đang phát triển hay ở các nước có nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi. Hiện nay, hầu hết các quốc gia đã quy định “rửa tiền” là hành vi phạm tội, đồng thời đưa ra các biện pháp phòng, chống nạn rửa tiền song song với nó là các hình phạt thích đáng. Hoạt động rửa tiền của bọn tội phạm ngày càng trở thành vấn đề mang tính toàn cầu, hậu quả của nó đối với nền kinh tế trong nước và thế giới rất lớn. Tiến hành chống nạn rửa tiền là một yêu cầu hết sức cần thiết không chỉ của riêng một quốc gia nào mà là yêu cầu của toàn thế giới.
Tội phạm về rửa tiền hoạt động ngày càng tinh vi, tầm hoạt động xuyên quốc gia với quy mô lớn và thường có tổ chức, đồng thời rửa tiền là hoạt động đi liền sau các hoạt động phạm tội khác. Do đó, ngay từ năm 1988 đã có hàng loạt các Công ước quốc tế về phòng, chống rửa tiền ra đời. Mặc dù không thể thống kê chính xác số lượng tiền, tài sản liên quan đến hoạt động phạm tội rửa tiền, do tính bí mật, tính xuyên quốc gia và tính phức tạp của nó, các nghiên cứu gần đây đều chỉ ra rằng sự ảnh hưởng của dòng tiền “bẩn” trong hệ thống tài chính đã gây ra những rủi ro nghiêm trọng cho hệ thống tài chính của các quốc gia, ảnh hưởng lớn đến sự an toàn của nền kinh tế, đến an ninh quốc gia và an ninh toàn cầu. Hầu hết, hành vi rửa tiền thường được thực hiện bởi các nhóm hay các tổ chức tội phạm trong nước hay xuyên quốc gia, vì vậy công tác đấu tranh chống tội phạm này gặp nhiều khó khăn. Tội phạm bị phát hiện thường đưa ra xét xử đối với tội phạm nguồn nên tội danh rửa tiền ít áp dụng trên thực tế.
Chính vì lẽ đó, đặt ra vấn đề phân tích, đánh giá và chỉ ra vướng mắc, bất cập thực tế trong việc áp dụng các quy định của pháp luật về tội rửa tiền ở Việt Nam. Phát hiện những quy định chưa phù hợp của pháp luật làm cho tội phạm này chưa được luật hóa. Đồng thời phân tích các quy định pháp luật của các Công ước quốc tế Liên Hợp Quốc về tội phạm “rửa tiền”, từ đó, đưa ra phương hướng tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật từ những vướng mắc, bất cập đã phân tích. Vậy nên, em đã lựa chọn đề tài của bài tiểu luận “Công ước quốc tế của Liên hợp quốc về tội phạm rửa tiền và phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam”.
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ RỬA TIỀN
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển các quy định pháp lý về hành vi rửa tiền trên thế giới
Hành vi rửa tiền đã xuất hiện từ lâu trên thế giới. Cách đây khoảng 4000 năm trước Công nguyên, hành vi có dấu hiệu rửa tiền giữa các thương nhân Trung Quốc thông qua việc che giấu tài sản thực có của mình để nhằm tránh bị phát hiện, sung công quỹ.
Sự ghi nhận về mặt pháp lý đầu tiên đó là Công ước viên năm 1988 của Liên Hợp Quốc về chống buôn bán bất hợp pháp ma túy và các chất hướng thần (Công ước viên năm 1988). Công ước này có hiệu lực từ tháng 11/1990.
Đến năm 1990, Hội đồng Châu âu thông qua Công ước số 141 ngày 08/10/1990 về tội phạm rửa tiền; phát hiện, bắt giữ và tịch thu các khoản tiền và tài sản do phạm tội mà có. Công ước này mở rộng khái niệm về hành vi rửa tiền hơn so với Công ước viên năm 1988 theo hướng không chỉ giới hạn ở những thu nhập từ hoạt động buôn bán bất hợp pháp ma túy và các chất hướng thần mà còn thu nhập có được từ các loại tội phạm khác.
Năm 2000, Công ước quốc tế về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (Công ước Palermo năm 2000) ra đời đã quy định những hành vi bị coi là rửa tiền. Công ước Palermo năm 2000 yêu cầu các quốc gia phê chuẩn Công ước phải hình sự hóa hành vi rửa tiền và quy định tất cả tội phạm nghiêm trọng (không chỉ riêng buôn bán bất hợp pháp ma túy và các chất hướng thần) là tội phạm nguồn của tội rửa tiền. Tháng 10/2003, Liên Hợp Quốc thông qua Công ước về chống tham nhũng, có hiệu lực vào tháng 12/2005. Nội dung của Công ước về cơ bản nhất trí quan điểm định nghĩa hành vi rửa tiền giống như Công ước Palermo năm 2000. Đồng thời Công ước về chống tham nhũng đã đưa ra các biên pháp phòng, chống rửa tiền; kêu gọi các bên ký kết phải quy định hành vi che giấu, tàng trữ tiền, tài sản do tham nhũng mà có là tội phạm và phải hình sự hóa hành vi phạm tội chưa đạt, chuẩn bị phạm tội, đồng phạm trong pháp luật quốc gia.
Cho đến nay, hành vi rửa tiền đã trở nên phổ biến và ngày càng phát triển hơn, thủ đoạn rửa tiền tinh vi hơn. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đầu có quy định trong pháp luật nước mình về các trường hợp bị coi là rửa tiền và các biện pháp phòng, chống đối với hành vi rửa tiền.
1.2. Quy định về rửa tiền trong một số công ước quốc tế, 40+9 khuyến nghị của FATF
1.2.1. Công ước Viên năm 1988
Công ước viên năm 1988 của Liên Hợp Quốc về chống buôn bán bất hợp pháp ma túy và các chất hướng thần có hiệu lực từ tháng 11/1990 là văn bản pháp lý đầu tiên ghi nhận hành vi rửa tiền bao gồm:
– Hành vi chuyển đổi hoặc chuyển giao tài sản khi biết rằng tài sản đó có nguồn gốc từ buôn bán ma túy hoặc từ việc tham gia vào hoạt động phạm tội với mục đích che giấu nguồn gốc tài sản hoặc giúp người thực hiện các hành vi trên trốn tránh trách nhiệm pháp lý đối với những hành vi của mình;
– Hành vi che giấu hoặc ngụy trang bản chất, nguồn gốc, địa điểm, việc định đoạt, chuyển nhượng quyền sở hữu tài sản hoặc các quyền liên quan đến tài sản mà biết rõ tài sản do buôn bán ma túy mà có;
– Hành vi mua bán, tàng trữ hoặc sử dụng tài sản trong khi biết rõ tài sản do phạm tội buôn bán ma túy mà có[1].
Công ước chủ yếu đề cập đến các quy định liên quan đến việc chống buôn bán hợp pháp ma túy và các chất hướng thần, các vấn đề liên quan đến thi hành pháp luật. Công ước yếu cầu các nước thành viên phải xây dựng hệ thống pháp luật quốc gia về hoạt động điều tra, bắt giữ đối với các đối tượng có hành vi liên quan đến hoạt động buôn bán ma túy, quy định về việc tịch thu các khoản tiền liên quan đến hoạt động buôn bán ma túy. Tuy nhiên, Công ước chỉ giới hạn hành vi rửa tiền đối với loại tội phạm nguồn là buôn bán bất hợp pháp ma túy và các chất hướng thần. Đây là một điểm hạn chế trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm rửa tiền trên thế giới.
[1] Điểm b, c, i, Khoản 1 Điều 3 Công ước Viên năm 1988.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 100.000 VNĐ (.docx)