THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Kiểm sát Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 20 trang (cả bìa)
- Năm: 2022 / Mã số: B0154.
- Pháp luật áp dụng: Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009 và 2019)
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2022] Điều kiện bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009 và 2019) và một số kiến nghị 2 B0154 dieu kien bao ho doi voi chi dan dia ly theo luat so huu tri tue 2](https://bunny-wp-pullzone-evwxkqab4s.b-cdn.net/wp-content/uploads/2024/02/B0154-dieu-kien-bao-ho-doi-voi-chi-dan-dia-ly-theo-luat-so-huu-tri-tue-2.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| Mục lục | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| PHẦN MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHỈ DẪN ĐỊA LÝ VÀ BẢO HỘ CHỈ DẪN ĐỊA LÝ | 2 |
| 1.1. Khái niệm chỉ dẫn địa lý | 2 |
| 1.2. Khái niệm bảo hộ chỉ dẫn địa lý | 3 |
| 1.3. Điều kiện bảo hộ chỉ dẫn địa lý | 3 |
| 1.4. Đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa chỉ dẫn địa lý | 5 |
| 1.5. Ý nghĩa của việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý | 6 |
| CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CỦA HOẠT ĐỘNG BẢO HỘ ĐỐI VỚI CHỈ DẪN ĐỊA LÝ TẠI VIỆT NAM | 8 |
| 2.1. Những thành tựu trong hoạt động bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý tại Việt Nam | 8 |
| 2.2. Bất cập, vướng mắc trong hoạt động bảo hộ đối với CDĐL tại Việt Nam | 9 |
| CHƯƠNG III: KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG BẢO HỘ CHỈ DẪN ĐỊA LÝ Ở VIỆT NAM | 13 |
| KẾT LUẬN | 16 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 17 |
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam hiện nay đã và đang hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thị trường, tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do để thúc đẩy gia tăng thương mại, xuất nhập khẩu hàng hóa. Song song cùng quá trình hội nhập, các quốc gia trong đó có Việt Nam cần đặc biệt quan tâm đến vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và bảo hộ chỉ dẫn địa lý nói riêng, bởi đây không chỉ đơn thuần là công cụ thúc đẩy sáng tạo, chuyển giao công nghệ, mà nó còn được coi là tài sản vô hình ngày càng có giá trị, nhất là khi Hiệp định EVFTA được ký. Nếu không quan tâm đến vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) cũng như bảo hộ chỉ dẫn địa lý, doanh nghiệp sẽ tự đánh mất đi nhiều cơ hội phát triển, mất cơ hội xuất khẩu mở rộng thị trường, đối mặt với rủi ro về mặt pháp lý…
Theo thống kê các kết quả nghiên cứu về sự phát triển chỉ dẫn địa lý cho thấy, thế giới có khoảng hơn 10.000 CDĐL được bảo hộ, với giá trị thương mại ước tính hơn 50 tỷ USD [5]. Xây dựng và phát triển chỉ dẫn địa lý (CDĐL) đã trở thành một chiến lược để bảo tồn đa dạng sinh học, văn hóa truyền thống và tăng cường khả năng cạnh tranh thương mại, giúp thúc đẩy tiềm năng các nguồn lực địa phương, đồng thời thúc đẩy cuộc chiến chống lạm dụng và gian lận thương mại, nâng cao nhận thức của người tiêu dùng và tăng sức cạnh tranh của sản phẩm.
Do vậy, trong phạm vi dung lượng cho phép của bài tiểu luận này, em xin được chọn đề tài số 13: “Điều kiện bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009 và 2019) và một số kiến nghị.” nhằm phân tích, làm sáng tỏ quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành về điều kiện bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý, đồng thời chỉ ra thực trạng của vấn đề này, từ đó đề xuất những kiến nghị phù hợp.
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHỈ DẪN ĐỊA LÝ VÀ BẢO HỘ CHỈ DẪN ĐỊA LÝ
1.1. Khái niệm chỉ dẫn địa lý
Định nghĩa về chỉ dẫn địa lý (CDĐL) lần đầu tiên được ghi nhận tại Điều 2 của Hiệp ước Lisbon 1958 đã được sửa đổi năm 1967 và 1979, theo đó: “Chỉ dẫn địa lý là tên địa lý của một nước, vùng hoặc địa phương dùng để chỉ dẫn xuất xứ của sản phẩm, mà chất lượng và những đặc tính của nó dựa trên các điều kiện môi trường địa lý độc đáo, ưu việt, bao gồm yếu tố tự nhiên và con người”. Hiệp định TRIPs cũng nêu ra khái niệm CDĐL như sau: “Chỉ dẫn địa lý là những chỉ dẫn về hàng hóa được bắt nguồn từ lãnh thổ của một quốc gia thành viên hoặc từ khu vực hay địa lý của lãnh thổ đó có chất lượng, uy tín hoặc đặc tính nhất định chủ yếu do xuất xứ địa lý quyết định”[2].
Khoản 22 Điều 4 Luật SHTT 2005 quy định: “Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể.” Như vậy, CDĐL giúp cho người tiêu dùng biết được một sản phẩm hàng hóa đến từ khu vực nào với những nét đặc thù riêng của khu vực đó như thế nào trong quá trình lựa chọn sản phẩm.
Ví dụ: Cam Vinh là tên một loại trái cây được gắn với chỉ dẫn địa lý địa danh Vinh (Nghệ An).
Khác với các đối tượng sở hữu công nghiệp khác như nhãn hiệu hay tên thương mại… Nếu như nhãn hiệu được hiểu như một dấu hiệu theo nghĩa rộng, bảo hộ những đặc điểm cụ thể của hàng hóa, dùng để phân biệt một số cá nhân, tổ chức cung cấp một số dịch vụ hoặc sản phẩm nhất định trên thị trường thì chỉ dẫn địa lý được hiểu như tên gọi, biểu tượng gắn với sản xuất ra sản phẩm, dựa trên quan hệ giữa nguồn gốc sản phẩm với sự uy tín mà sản phẩm có được, nhằm phân biệt một khu vực địa lý trên đó có một hoặc một vài chủ thể sản xuất loại sản phẩm mang CDĐL của khu vực này.
Ví dụ: “Trung Nguyên” là một nhãn hiệu cho sản phẩm cà phê của công ty Cà phê Trung Nguyên được dùng để phân biệt với sản phẩm cà phê do các chủ thể khác sản xuất. Còn “nước mắm Phú Quốc” là một chỉ dẫn địa lý dùng cho các sản phẩm nước mắm được sản xuất bởi các chủ thể khác nhau tại Phú Quốc để phân biệt với các loại nước mắm được sản xuất ở những khu vực địa lý khác.
1.2. Khái niệm bảo hộ chỉ dẫn địa lý
Trên thực tế, CDĐL ngày càng có uy tín và xuất hiện rộng rãi trên thị trường thì nhu cầu bảo hộ đối với CDĐL ngày càng lớn, nhằm chống lại các hành vi xâm phạm quyền đối với CDĐL. Chúng ta có thể hiểu: Bảo hộ CDĐL là việc Nhà nước thông qua các quy định pháp luật quy định việc xác lập, công nhận và thực hiện quyền đối với CDĐL, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể chống lại hành vi xâm phạm CDĐL.
Bảo hộ CDĐL đặt trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hiện nay thì không còn chỉ bó hẹp trong phạm vi pháp luật một quốc gia mà nó trở thành vấn đề hết sức đáng quan tâm trong các điều ước quốc tế song phương và đa phương. Bảo hộ CDĐL là một quá trình phức tạp, đòi hỏi sự tham gia của Nhà nước, thông qua hoạt động của các cơ quan chức năng và sự phối hợp của các tổ chức cá nhân có quyền lợi liên quan, nhằm hạn chế một cách tối đa các rủi ro và xử lý kịp thời những hành vi xâm phạm.
1.3. Điều kiện bảo hộ chỉ dẫn địa lý
Tại điều 79 Luật SHTT 2005 đã chỉ ra rất cụ thể các điều kiện chung đối với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ:
“Chỉ dẫn địa lý được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
1. Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có nguồn gốc địa lý từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý;
2. Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lý của khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý đó quyết định.” [1]
Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu (có thể là tên gọi, biểu tượng hoặc hình ảnh) nhưng dấu hiệu đó phải thỏa mãn các yêu cầu cụ thể:
Thứ nhất, phải gắn với một khu vực, địa phương cụ thể hay nói cách khác tên gọi, biểu tượng hình ảnh đó phải có thực và chỉ thuộc về khu vực địa phương đó mà thôi. Khu vực địa lí mang CDĐL có ranh giới được xác định chính xác bằng từ ngữ và bản đó. Khu vực địa lí có thể là một đơn vị hành chính quốc gia. khu vực địa lý thuộc một hay nhiều đơn vị hành chính hoặc toàn bộ lãnh thổ quốc gia. Trong trường hợp khu vực địa lí không thuộc toàn bộ đơn vị hoặc các đơn vị hành chính, bản đồ khu vực địa lí đó sẽ được lập theo khu vực sản xuất thực tế sản phẩm mang CDĐL tương ứng, được cơ quan quản lí khu vực đó xác nhận [3]. Ví dụ: cà phê Buôn Mê Thuột. Nếu nguyên liệu là cà phê được người dân Buôn Mê Thuộc thu hoạch theo phương pháp truyền thống, quy trình chế biến ra sản phẩm cà phê đều được thực hiện bởi người dân vùng này theo đúng quy trình truyền thống thì dù cho việc đóng gói, dán nhãn được thực hiệm ở nơi khác thì sản phẩm vẫn được coi là cà phê Buôn Mê Thuột.
Thứ hai, được dùng với mục đích duy nhất để chỉ rõ sản phẩm hàng hoá có nguồn gốc được sản xuất từ khu vực địa phương đó chứ không phải được gắn trên hàng hoá hay bao bì của hàng hoá nhằm mục đích trang trí cho đẹp hay vì bất kì mục đích nào khác.
Mối quan hệ giữa danh tiếng, chất lượng của sản phẩm với điều kiện địa lí: Có mối liên hệ phụ thuộc giữa chất lượng đặc thù, danh tiếng của hàng hoá với môi trường địa lí được chỉ rõ trong chỉ dẫn địa lí đó. Hàng hoá, sản phẩm đó phải có ít nhất có một tính chất đặc thù về chất lượng hoặc có danh tiếng liên quan đến điều kiện địa lí tự nhiên, con người của địa phương đó. Như vậy, yêu cầu tối thiểu là phải chỉ ra được bằng chứng về đặc tính của hàng hoá có sự liên quan phụ thuộc với điều kiện tự nhiên, con người hoặc kết hợp cả hai yếu tố đó của khu vực, địa phương cụ thể [3].
Tính chất, chất lượng đặc thù của sản phẩm hàng hoá mang CDĐL được thể hiện bằng một hoặc một số yếu tố như chỉ tiêu định tính, định lượng hoặc cảm quan về vật lí, hoá học, vi sinh và các chỉ tiêu đó phải có khả năng kiểm tra được bằng phương tiện kĩ thuật hoặc chuyên gia theo phương pháp thử được xác định cụ thể từ trước. Danh tiếng, uy tín của sản phẩm mang CDĐL được thể hiện thông qua sự biết đến sản phẩm đó một cách rộng rãi trong giới tiêu dùng sản phẩm liên quan trong quá trình tồn tại và phát triển của sản phẩm đó. Ví dụ, các sản phẩm nước hoa, hương phẩm của nước Pháp có gắn với hình tượng tháp Eiffen đã được giới tiêu dùng trên cả thế giới ưa chuộng bởi uy tín và danh tiếng của các sản phẩm nước hoa có nguồn gốc xuất xứ từ Pháp. Các điều kiện địa lí liên quan đến chỉ dẫn địa lí bao gồm hai yếu tố cơ bản hội tụ nên, đó là: Yếu tố tự nhiên và yếu tố con người. Chất lượng đặc thù của hàng hoá, bản chất của hàng hoá được quyết định hoàn toàn hoặc ở mức độ cơ bản và chủ yếu bởi các điều kiện về tự nhiên, con người của môi trường địa lí nơi chúng được sản xuất ra.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 50.000 VNĐ (.docx)