THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 22 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0065.
- Pháp luật áp dụng: Bộ luật Lao động năm 2019.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2024] Giải pháp nhằm hạn chế tranh chấp lao động ở Việt Nam hiện nay 3 giai phap nham han che tranh chap lao dong o viet nam hien nay 3](https://tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2024/02/giai-phap-nham-han-che-tranh-chap-lao-dong-o-viet-nam-hien-nay-3.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRANH CHẤP LAO ĐỘNG TRONG LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM | 2 |
| 1.1. Khái niệm và dấu hiệu tranh chấp lao động | 2 |
| 1.1.1. Khái niệm tranh chấp lao động | 2 |
| 1.1.2. Dấu hiệu của tranh chấp lao động | 2 |
| 1.2. Những đặc điểm của tranh chấp lao động | 3 |
| 1.3. Nguyên nhân phát sinh tranh chấp lao động | 4 |
| 1.3.1. Nguyên nhân chủ quan | 4 |
| 1.3.2. Nguyên nhân khách quan | 5 |
| 1.4. Phân loại tranh chấp lao động | 5 |
| 1.5. Những ảnh hưởng của tranh chấp lao động đối với các bên và nền kinh tế - xã hội | 6 |
| 1.6. Giải quyết các tranh chấp lao động | 7 |
| 1.6.1. Các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động | 7 |
| 1.6.2. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động | 8 |
| 1.6.3. Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động | 8 |
| Tiểu kết Chương 1 | 9 |
| CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ TRANH CHẤP LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM | 10 |
| 2.1. Thực trạng vấn đề tranh chấp lao động ở Việt Nam trong những năm gần đây | 10 |
| 2.2. Đánh giá tình hình thực trạng vấn đề tranh chấp lao động | 12 |
| Tiểu kết Chương 2 | 14 |
| CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ TRANH CHẤP LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY | 15 |
| 2.1. Giải pháp nhằm hạn chế tranh chấp lao động ở Việt Nam hiện nay | 15 |
| 2.2. Một số ý kiến khác | 16 |
| KẾT LUẬN | 17 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 18 |
LỜI MỞ ĐẦU
Lao động là một nguồn tài sản quý giá của mỗi quốc gia trên thế giới. Ngoài ra, nó còn là yếu tố thiết yếu, nguồn lực phát triển quan trọng trong quá trình sản xuất góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế toàn cầu.
Hiện nay, Việt Nam đang trong xu thế toàn cầu hóa, hiện đại hóa, nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa ngày một phát triển. Chính sự phát triển đấy, cùng với các tác động của yếu tố bên ngoài xã hội nên trong quá trình lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động đã xảy ra những tranh chấp về vấn đề quyền, lợi ích của mỗi bên. Tỉ lệ các cuộc tranh chấp lao động ở nước ta trong những năm gần đây ngày một tăng dẫn đến một số ảnh hưởng xấu cho nền kinh tế. Đảng và Nhà nước ta trong thời gian đó, cũng đã đưa ra một số giải pháp nhằm hạn chế tình trạng này nhưng vẫn còn rất nhiều bất cập khi áp dụng thực tiễn.
Vì vậy, giải quyết tranh chấp lao động, đưa nền kinh tế nước nhà phát triển là một vấn đề luôn được quan tâm, đặt ra với các nước đang phát triển, đặc biệt là Việt Nam. Xuất phát từ những thực tiễn trên, tôi đã chọn đề tài “Giải pháp nhằm hạn chế tranh chấp lao động ở Việt Nam hiện nay” nhằm nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng và các chính sách hạn chế tranh chấp lao động để đảm bảo nguồn lao động cho sự phát triển kinh tế bền vững.
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRANH CHẤP LAO ĐỘNG TRONG LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM
1.1. Khái niệm và dấu hiệu tranh chấp lao động
1.1.1. Khái niệm tranh chấp lao động
Trước những năm 1985, những khái niệm về tranh chấp lao động gần như không được nhắc đến. Cho đến những năm sau đó, có rất nhiều quan điểm bàn đến vấn đề “tranh chấp lao động”.
Tranh chấp lao động trước đây được hiểu là những xích mích giữa các công nhân và chủ sử dụng lao động. Khái niệm “xích mích giữa chủ – thợ” được duy trì khá lâu ở Việt Nam trong quan hệ lao động, được coi như một vấn đề quan thuộc của đời sống nhân dân thời bấy giờ.
Ở miền Nam, dưới chế độ cũ, Bộ luật Lao động đã được xây dựng để điều chỉnh quan hệ lao động. Bộ luật Lao động lúc đó không sử dụng khái niệm “tranh chấp lao động” mà thay bằng cụm từ “phân tranh lao động”.
Có quan điểm thì cho rằng, tranh chấp lao động là sự xung đột giữa các bên trong quan hệ lao động. Nhưng quan điểm này chỉ phần nào xác định được tính chất, vẫn chưa làm rõ được đối tượng trong tranh chấp lao động và vấn đề tranh chấp nhằm mục đích gì.
Hiện nay, khái niệm về tranh chấp lao động đã quy định chi tiết, cụ thể tại khoản 1 Điều 179 Bộ luật Lao động năm 2019 “Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ, lợi ích phát sinh giữa các bên trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ lao động; tranh chấp giữa các tổ chức đại diện người lao động với nhau; tranh chấp phát sinh từ quan hệ có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động.”[7, tr134]
1.1.2. Dấu hiệu của tranh chấp lao động
Tranh chấp lao động phải thể hiện ra bên ngoài qua các hình thức nhất định. Sự xung đột giữa các bên chủ thể bao giờ cũng bắt đầu từ những mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm, lợi ích. Tuy nhiên, các mâu thuẫn về quyền, lợi ích đó, ban đầu và trước hết phải xuất phát từ ý nghĩ, tư duy của người cụ thể; tuy nhiên những mâu thuẫn đó phải được bùng phát qua một hành vi, hành động, hình thức nhất định mới có thể trở thành một tranh chấp lao động thực sự.
Khi xác định một tranh chấp lao động cần chú ý những điểm sau:
– Tranh chấp lao động là sự xung đột giữa các chủ thể trong quan hệ lao động.
– Sự xung đột đó diễn ra trong quá trình lao động.
– Sự xung đột giữa các bên tranh chấp phải gắn với, xuất phát từ quyền, lợi ích của các bên liên quan đến quá trình lao động đó mà không phải là các quyền. lợi ích khác ngoài quá trình lao động.
– Xung đột giữa các bên nói ở trên phải được thể hiện qua một hình thức nhất định và biểu đạt rõ yêu cầu của một hoặc tất cả các bên về sự giải quyết tranh chấp lao động đó.
1.2. Những đặc điểm của tranh chấp lao động
Do tính chất đặc biệt của quan hệ lao động mà các tranh chấp lao động cũng có đặc điểm riêng giúp phân biệt nó với các tranh chấp khác trong xã hội.
Về chủ thể, tranh chấp lao động có chủ thể bao gồm người lao động, người sử dụng lao động, tập thể lao động, đại diện của người lao động (Công đoàn, tổ chức đại diện người lao động), đại diện của người sử dụng lao động. Tuy nhiên, có những trường hợp, chủ thể của tranh chấp lao động không phải là chủ thể của quan hệ lao động nhưng vẫn thừa nhận là chủ thể của tổ chức lao động như đơn vị sự nghiệp đưa người đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài.
Về phạm vi tranh chấp, tranh chấp lao động là loại tranh chấp xuất hiện, tồn tại trong phạm vi của quá trình lao động. Nó luôn phát sinh từ quan hệ lao động (trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa của các bên trong quan hệ lao động).
Về nội dung tranh chấp, tranh chấp lao động bao gồm các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình lao động. Ngoài ra, còn những tranh chấp về lợi ích giữa hai bên chủ thể. Tranh chấp lao động có thể phát sinh mà không có vi phạm pháp luật. Tòa án cũng không chấp nhận giải quyết các tranh chấp ngoài lề giữa các bên của quan hệ lao động thành một vụ tranh chấp lao động.
Về ảnh hưởng xã hội, tranh chấp lao động có sự ảnh hưởng lớn đến đời sống lao động của nhân dân, trật tự công cộng cũng như nền kinh tế – xã hội – chính trị của Nhà nước ta. Bên cạnh đó, tranh chấp lao động còn làm cho các mối quan hệ khác trong quá trình lao động bị phá vỡ, thậm chí là tìm cách cắt đứt quan hệ. Nhiều cuộc tranh chấp lao động lớn đã dẫn đến tình trạng đình công gây thiệt hại rất nhiều tài sản của các doanh nghiệp.
1.3. Nguyên nhân phát sinh tranh chấp lao động
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của quan hệ lao động trong nền kinh tế xã hội mà tranh chấp lao động ngày càng phát sinh và gia tăng. Nhiều cuộc tranh chấp không có hồi kết dẫn đến những cuộc đình công lớn của người lao động gây ra tổn thất rất lớn về tài sản của doanh nghiệp và nhà nước. Dưới góc độ pháp lý nguyên nhân dẫn đến tranh chấp lao động có thể là được chia làm loại nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 100.000 VNĐ (.docx)