THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 14 trang (Không bao gồm bìa, Mục lục)
- Năm: 2025 / Mã số: B0733.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2025] Giám hộ theo quy định của pháp luật Việt Nam 2 giam ho theo quy dinh cua phap luat viet nam 2](https://tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2025/01/giam-ho-theo-quy-dinh-cua-phap-luat-viet-nam-2.png)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài | 1 |
| 2. Kết cấu của tiểu luận | 2 |
| CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIÁM HỘ | 3 |
| 1.1. Khái niệm giám hộ | 3 |
| 1.2. Đặc điểm giám hộ | 4 |
| CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 VỀ GIÁM HỘ | 6 |
| 2.1. Người được giám hộ | 6 |
| 2.2. Người giám hộ | 7 |
| 2.3. Giám sát giám hộ | 7 |
| CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIÁM HỘ | 10 |
| 3.1. Người được giám hộ | 10 |
| 3.2. Người giám hộ | 11 |
| 3.3. Giám sát giám hộ | 12 |
| KẾT LUẬN | 13 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 14 |
TẢI VỀ: Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu! |
LỜI MỞ ĐẦU
Đối với người chưa thành niên, sự hiện diện, vai trò của cha mẹ với tư cách người bảo vệ quyền, lợi ích cho con mình được nhìn nhận như một sự hiển nhiên. Tuy nhiên, với trẻ mà không xác định cha mẹ hoặc cha mẹ đã mất hoặc không có khả năng bảo vệ con mình hoặc những cá nhân đã ở ngưỡng được coi là trưởng thành nhưng do các lý do khác nhau dẫn đến sức khoẻ tâm thần không tốt, khó khăn hoặc thậm chí không có khả năng nhận thức, làm chủ hành vi thì cần phải có một cơ chế khác để bảo vệ các cá nhân này. Cơ chế này được định danh dưới tên gọi “giám hộ”. Thế nên, quan hệ giám hộ như một lẽ tất yếu phát sinh trong đời sống, gắn liền hoạt động bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể nên cũng luôn đòi hỏi pháp luật phải có quy định để bảo hộ, bảo đảm cho quan hệ này được thực thi trong cuộc sống. Quy định pháp luật nói chung và các quy định về giám hộ nói riêng càng hoàn thiện thì đương nhiên hiệu quả điều chỉnh các quan hệ thực tế sẽ càng cao.
Các quy định của Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 về giám hộ ngày càng hoàn thiện, có nhiều điểm mới và thể hiện rõ vai trò trong quá trình áp dụng thực tiễn, cụ thể: Trong BLDS năm 2015, lần đầu tiên ghi nhận về cá nhân ở tình trạng có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cần có người giám hộ (khoản 2 Điều 46), ghi nhận việc giám hộ phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền (khoản 3 Điều 46), bổ sung người giám hộ có thể là pháp nhân bên cạnh việc ghi nhận cá nhân theo quy định “truyền thống” trong các BLDS trước đó, cho phép người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ được phép lựa chọn người giám hộ cho mình khi mình ở tình trạng cần giám hộ (khoản 2 Điều 48), bổ sung điều kiện “không phải là người bị Toà án tuyên bố hạn chế quyền đối với người chưa thành niên” đối với điều kiện dành cho cá nhân là người giám hộ (khoản 4 Điều 49), bổ sung các điều kiện dành cho pháp nhân là người giám hộ (Điều 50), bổ sung yêu cầu đăng ký giám sát việc giám hộ liên quan đến quản lý tài sản của người được giám hộ (khoản 1 Điều 51), ghi nhận thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết tranh chấp về việc cử, chọn người giám sát giám hộ (khoản 2 Điều 51) hay bổ sung quyền, nghĩa vụ của người giám sát việc giám hộ… Không thể phủ nhận rằng, các quy định pháp luật về giám hộ trong BLDS năm 2015 đã ngày càng được hoàn thiện hơn, bám sát với các yêu cầu trong đời sống thực tiễn.
Tuy nhiên, các quy định này cũng cho thấy những điểm hạn chế nổi bật: trường hợp người mắc bệnh tâm thần, bệnh khác hoặc lý do khác nhưng chưa có quyết định của Toà án tuyên bố người này mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì khoảng thời gian này sẽ ứng xử ra sao trong việc chăm sóc, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho các cá nhân này? Tiếp đến, trường hợp người giám hộ đương nhiên từ chối thực hiện giám hộ không từ chối nhưng cũng không thực hiện việc giám hộ thì có chấm dứt giám hộ không? Bên cạnh đó, nếu người giám hộ đương nhiên đang trong tình trạng “nợ nần” thì có được coi là không đáp ứng điều kiện để trở thành người giám hộ vì không thể đảm bảo người này sẽ “lợi dụng” tài sản của người được giám hộ trong việc giải quyết những khó khăn tài chính mà mình gặp phải. Một vấn đề khác cũng phát sinh trong quá trình làm thực tiễn, giám hộ dành cho trẻ em lang thang, cơ nhỡ, không nơi nương tựa cũng là một vấn đề lớn cần quan tâm trong khi quy chế pháp lý về vấn đề này tương đối “mờ nhạt”… Với một vài vấn đề nêu trên đã cho thấy, các quy định về giám hộ tuy ngày càng hoàn thiện nhưng để “tròn trịa” thì vẫn cần phải tiếp tục có quy định bổ sung cho những khía cạnh còn thiếu, còn chưa được điều chỉnh.
Vì vậy, học viện lựa chọn nghiên cứu đề tài “Giám hộ theo quy định của pháp luật Việt Nam” làm tiểu luận kết thúc môn học.
[… Vui lòng tải về để xem đầy đủ nội dung tài liệu này]
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ: Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu! |