THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 22 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0016.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2024] Hành nghề luật sư ở Pháp, Đức dưới góc độ so sánh 2 hanh nghe luat su o phap duc duoi goc do so sanh 2](https://tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2024/02/hanh-nghe-luat-su-o-phap-duc-duoi-goc-do-so-sanh-2.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| PHẦN 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGHỀ LUẬT VÀ HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ | 2 |
| 1.1. Khái quát chung về nghề luật | 2 |
| 1.1.1. Khái niệm về nghề Luật | 2 |
| 1.1.2. Các đặc trưng cơ bản của nghề Luật | 3 |
| 1.1.3. Xu hướng phát triển của nghề Luật | 4 |
| 1.2. Khái quát chung về hành nghề luật sư | 4 |
| 1.2.1. Khái niệm về hành nghề luật sư | 4 |
| 1.2.2. Tính chất đặc thù và nội dung của hành nghề luật sư | 5 |
| 1.2.3. Các yêu cầu chung đối với hành nghề luật sư | 6 |
| PHẦN 2: SO SÁNH HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ Ở PHÁP VÀ ĐỨC | 8 |
| 2.1. So sánh hành nghề luật sư ở Pháp và Đức | 8 |
| 2.1.1. Điểm giống | 8 |
| 2.1.2. Điểm khác biệt | 10 |
| 2.2. Lý giải về những điểm giống và khác nhau giữa hành nghề luật sư ở Pháp, Đức | 12 |
| 2.2.1. Lý giải về điểm tương đồng | 12 |
| 2.2.2. Lý giải về điểm khác biệt | 13 |
| PHẦN 3: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA NGHỀ LUẬT SƯ Ở PHÁP VÀ ĐỨC HIỆN NAY | 15 |
| 3.1. Cơ hội | 15 |
| 3.1.1. Giai đoạn đào tạo luật | 15 |
| 3.1.2. Giai đoạn hành nghề luật | 15 |
| 3.2. Thách thức | 16 |
| 3.2.1. Giai đoạn đào tạo luật | 16 |
| 3.2.2. Giai đoạn hành nghề luật Nghề luât sư | 16 |
| KẾT LUẬN | 17 |
| TÀI LIỆU THAM KHẢO | 18 |
LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng về mọi lĩnh vực, cùng với tốc độ phát triển nhanh chóng về kinh tế, thương mại của các nước trên thế giới, đặc biệt là sự phát triển kinh tế mang tính toàn cầu như hiện nay, thì sự tương trợ lẫn nhau giữa các nghề nghiệp cũng được mở rộng và nâng cao. Hội nhập hóa mạnh mẽ tạo nên nhiều cơ hội cho Việt Nam, song song với đó là những thách thức, khó khăn cần phải đối mặt khi ngày càng xuất hiện nhiều tranh chấp, xung đột, không chỉ ở phạm vi trong nước mà còn diễn ra trên phạm vi quốc tế. Việc tham gia ký kết nhiều Hiệp định thế giới và khu vực của Việt Nam góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, nhu cầu sử dụng các dịch vụ pháp luật giữa các nước cũng tăng lên đáng kể.
Xuất phát từ thực tiễn trên, một yêu cầu xác đáng đã được đặt ra, đó là cần phải nâng cao vị thế và vai trò của luật pháp nói chung và nghề luật nói riêng, khẳng định tầm quan trọng và sự cần thiết của nó đối với tiến trình phát triển kinh tế – xã hội. Xem xét, tham khảo, học hỏi kinh nghiệm của các nước trong công tác đào tạo hành nghề luật sư là những vấn đề mà bất cứ tổ chức, cá nhân nào cũng cần nắm bắt được để từ đó điều chỉnh và thay đổi các hoạt động hành nghề, thực hiện xây dựng pháp luật trên các lãnh thổ và vùng địa lý khác nhau.
Chính vì thế, nhằm cung cấp thêm những góc nhìn đa chiều, toàn diện, khái quát về nghề luật, với đại diện cụ thể là nghề luật sư, nhóm chúng em xin chọn đề tài nghiên cứu: “Hành nghề luật sư ở Pháp, Đức dưới góc độ so sánh”. Bài viết của chúng em có sử dụng các phương pháp nghiên cứu tổng hợp, phân tích, so sánh, liệt kê để cung cấp thông tin về hành nghề luật sư tại một số nước thuộc dòng họ pháp luật Civil Law. Trong quá trình thực hiện, nhóm chúng em có thể sẽ không tránh khỏi những sai sót. Vì vậy, chúng em rất mong có thể nhận được sự góp ý của cô để nội dung bài nghiên cứu được hoàn thiện hơn.
Nhóm chúng em xin chân thành cảm ơn!
PHẦN 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGHỀ LUẬT
VÀ HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ
1.1. Khái quát chung về nghề luật
1.1.1. Khái niệm về nghề Luật
1.1.1.1. Nghề
Khái niệm về “nghề” nói chung được hiểu trước hết là một công việc. Người hành nghề đã được đào tạo một cách chính thức thông qua trường lớp hoặc tự họ đào tạo bản thân thông qua các hoạt động xã hội, thông qua bạn bè hoặc từ những nguồn khác nhau. Những người hành nghề được đào tạo kiến thức trong một lĩnh vực nhất định, tùy theo sự hiểu biết của mình để đáp ứng nhu cầu chủ quan và khách quan. Có thể hiểu, họ hành nghề theo sự phân công lao động trong xã hội.
1.1.1.2. Nghề Luật
Để hiểu về nghề Luật, trước hết cần phải hiểu về nguồn hình thành của nó.
Pháp luật được hình thành cùng với Nhà nước và giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của nhà nước cũng chính là những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của pháp luật. Mỗi một hoạt động của các cơ quan, tổ chức hay các cá nhân đều phải tôn trọng luật pháp, lấy luật pháp làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của mình.
Nghề Luật là một khái niệm mang tính tương đối, được sử dụng để chỉ những nghề nghiệp của những người có kiến thức pháp luật nhất định. Họ thực hiện các công việc liên quan đến các khía cạnh khác nhau của đời sống pháp lý tại các bộ phận trong các cơ quan hành chính nhà nước, các tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước. Người làm nghề luật đảm nhiệm những nhiệm vụ liên quan đến pháp luật, thực thi sứ mệnh tuân thủ, bảo vệ sự thượng tôn pháp luật, sự độc lập tư pháp, công lý, lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân.
1.1.2. Các đặc trưng cơ bản của nghề Luật
Được thực hiện bởi những người có các chức danh tư pháp khác nhau, nghề luật hướng tới mục đích là bảo vệ pháp chế quốc gia, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự, nhân phẩm của công dân, mang tính giáo dục nhằm nâng cao ý thức pháp luật, tôn trọng quy tắc của cuộc sống xã hội, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm cũng như các vi phạm pháp luật khác.
Những người hành nghề luật luôn phải hoạt động trong khuôn khổ mà pháp luật quy định. Do đó, người hành nghề luật phải có những phẩm chất tiêu biểu, đặc thù như công bằng, khách quan, trung thực, tư duy logic; có khả năng linh cảm, phân tích, tổng hợp và lập luận cao; đồng thời phải có bản lĩnh vững vàng và khả năng diễn đạt tốt.
Nghề luật là bất khả kiêm nhiệm. Nếu có nhu cầu thay đổi, họ buộc phải từ bỏ hoạt động nghề nghiệp hiện tại. Điểm a, Khoản 1 Điều 18 Luật Luật sư 2006 quy định về thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư như sau:
“1. Người đã được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư mà thuộc một trong những trường hợp sau đây thì bị thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư:
a) Là cán bộ, công chức, viên chức; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân;”
Điều đó có nghĩa, khi người hành nghề luật trở thành các chức danh tư pháp trong hệ thống các cơ quan nhà nước thì không được làm luật sư.
Một đặc điểm để phân biệt nghề luật với những nghề khác đó là nghề luật sử dụng các quy định pháp luật làm công cụ, phương tiện để giải quyết những vấn đề pháp lý phát sinh trong đời sống xã hội. Nói cách khác, nghề luật dựa hoạt động dựa trên pháp luật và quy tắc ứng xử nghề nghiệp. Mỗi nghề luật khác nhau đòi hỏi phải có các kỹ năng khác nhau, các kiến thức khác nhau dù đều là áp dụng pháp luật.
1.1.3. Xu hướng phát triển của nghề Luật
Trong những năm gần đây, nghề Luật đã trải qua những thay đổi to lớn, và có nhiều lý do để tin rằng tốc độ thay đổi sẽ tăng nhanh.
Giữa bối cảnh thế giới hiện đại, sự ra đời của công nghệ pháp lý (Legal Tech) đã giải quyết được rất nhiều khó khăn cho nghề Luật. Thay vì thực hiện một cách thủ công việc trích xuất dữ liệu từ trang thông tin này tới trang thông tin khác, các thuật toán và máy móc sẽ hỗ trợ công việc, hoàn thành nhiệm vụ của những người hành nghề với tốc độ nhanh, chi phí rẻ, hiệu quả công việc được nâng cao và chính xác hơn. Một trong những ví dụ điển hình của việc áp dụng công nghệ vào giải quyết các thủ tục pháp lý là công ty TNHH ứng dụng công nghệ pháp lý (Regtech). Được thành lập vào năm 2018, Regtech đã và đang triển khai các dự án tạo ra “hệ sinh thái pháp lý” nhằm hỗ trợ tối đa cá nhân, tổ chức trong lĩnh vực pháp lý.
Một trong những tiềm năng đối với nghề Luật mà không thể không kể đến, đó là cơ hội việc làm rộng mở. Nhu cầu cao trong nghề Luật đã dẫn đến sự gia tăng của những “cuộc chiến” tranh giành nhân tài. Điều này cũng đồng nghĩa với việc yêu cầu về kỹ năng của người hành nghề ngày càng cao. Những người hành nghề Luật cần phải trau dồi những kiến thức và kĩ năng mà công nghệ không thể có.
1.2. Khái quát chung về hành nghề luật sư
1.2.1. Khái niệm về hành nghề luật sư
Trước hết, để hiểu về khái niệm này, chúng ta cần làm rõ khái niệm về “hành nghề” và khái niệm “luật sư”.
Theo từ điển Tiếng Việt, hành nghề là “làm công việc thuộc về nghề nghiệp của mình để sinh sống”. Còn Điều 2 Luật Luật sư 2006 quy định về luật sư như sau: “Người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách hàng)”.
Do đó, dưới góc độ nghề nghiệp luật sư, hành nghề luật sư được hiểu là: “Tổ chức hành nghề luật sư và luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng còn khách hàng phải trả thù lao và chi phí cho luật sư, tổ chức hành nghề luật sư theo quy định của pháp luật và quy tắc đạo đức nghề nghiệp nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng.”
1.2.2. Tính chất đặc thù và nội dung của hành nghề luật sư
Tùy vào hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia mà tính chất của nghề luật sư cũng sẽ có sự khác nhau. Tuy nhiên, về cơ bản, hành nghề luật sư sẽ có những tính chất đặc thù như: phải chuyên nghiệp, có trình độ chuyên môn sâu về kiến thức pháp lý và kỹ năng hành nghề; hành nghề chủ yếu bằng trình độ và kinh nghiệm chuyên môn, chứ không phải là vốn vật chất; đối tượng phục vụ là khách hàng, luật sư cung cấp “dịch vụ pháp lý” cho khách hàng và nhận thù lao từ khách hàng, nghề luật sư là một loại “dịch vụ tư”.
Theo quy định của các nước trên thế giới, cũng như theo quy định của pháp luật Việt Nam thì nội dung của nghề luật sư bao gồm (căn cứ vào Điều 22 Luật Luật sư):
“1. Tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc là người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự.
- Tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hoặc là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính, việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và các vụ, việc khác theo quy định của pháp luật.
- Thực hiện tư vấn pháp luật.
- Đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng để thực hiện các công việc có liên quan đến pháp luật.
- Thực hiện dịch vụ pháp lý khác theo quy định của Luật này.”
Các luật sư được hành nghề tự do, tự do lựa chọn hình thức hành nghề là hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư, được thực hiện bằng việc thành lập hoặc tham gia thành lập các tổ chức ấy; làm việc theo hợp đồng cho tổ chức hoặc hành nghề với tư cách cá nhân. Các luật sư hành nghề theo quy định của pháp luật.
1.2.3. Các yêu cầu chung đối với hành nghề luật sư
1.2.3.1. Tiêu chuẩn hành nghề luật sư
Tiêu chuẩn hành nghề là một yêu cầu rất quan trọng. Bất cứ quốc gia nào cũng có những tiêu chuẩn hành nghề để luật sư được phép hay không hoạt động. Về cơ bản, để hành nghề luật sư, sẽ cần trải qua quá trình đào tạo từ cử nhân luật cho đến khi được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư.
Một luật sư cần đáp ứng điều kiện về phẩm chất đạo đức, tư cách công dân quốc gia và đáp ứng điều kiện về quá trình đào tạo. Người hành nghề luật sư phải có những kiến thức pháp luật cơ bản ở trình độ cử nhân luật trở lên. Theo đó, sau khi có bằng cử nhân, cần tiếp tục tham gia những khóa đào tạo nghề luật sư và tham gia tập sự hành nghề luật sư. Người đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư có hồ sơ đề nghị cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư.
1.2.3.2. Hình thức hành nghề luật sư
Thực tiễn cho thấy, các cơ quan nhà nước, các tổ chức, doanh nghiệp đang thực sự có nhu cầu tuyển dụng luật sư làm việc cho mình với tư cách là luật sư riêng (in-house lawyer). Ngoài ra, xét về tính chất, luật sư là một nghề tự do, các luật sư có thể tự do lựa chọn hình thức hành nghề phù hợp với năng lực và điều kiện thực tế của mình. Trong hành nghề, luật sư hoạt động độc lập trên cơ sở pháp luật và tuân theo pháp luật. Từ thực tiễn nói trên, hình thức hành nghề luật sư đã được mở rộng. Từ đó, luật sư có thể lựa chọn một trong các hình thức hành nghề bao gồm hành nghề trong tổ chức và hành nghề với tư cách cá nhân.
Nhìn chung, hành nghề luật sư sẽ có những điểm riêng biệt tại một số quốc gia khác nhau do tính chất của nghề cùng các quy định nghề luật tại những quốc gia này cũng khác nhau. Nhưng về cơ bản, tính chất đặc thù cùng những yêu cầu chung nhất đối với vấn đề này là không thay đổi. Đây chính là yếu tố giúp ta nhìn nhận và đánh giá một cách khách quan, chính xác nhất về nghề luật sư…
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 100.000 VNĐ (.docx)