THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Kiểm sát Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 28 trang (cả bìa)
- Năm: 2022 / Mã số: B0134.
- Pháp luật áp dụng: Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2022] Hậu quả pháp lý của hủy kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 3 B0134 hau qua phap ly cua huy ket hon trai phap luat theo luat hngd nam 2014 3](https://tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2024/02/B0134-hau-qua-phap-ly-cua-huy-ket-hon-trai-phap-luat-theo-luat-hngd-nam-2014-3.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| PHẦN MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN | 2 |
| 1.1. Khái niệm kết hôn trái pháp luật và hủy việc kết hôn trái pháp luật | 2 |
| 1.2. Căn cứ hủy kết hôn trái pháp luật | 2 |
| 1.3. Người có quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật | 3 |
| 1.4. Giải quyết đối với các trường hợp kết hôn trái pháp luật | 4 |
| CHƯƠNG II: HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA HỦY KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 | 6 |
| 2.1. Về quan hệ nhân thân giữa các bên kết hôn trái pháp luật | 6 |
| 2.2. Về quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên kết hôn trái pháp luật | 6 |
| 2.2.1. Quan hệ tài sản | 7 |
| 2.2.2. Nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên | 8 |
| 2.3. Quan hệ giữa các bên kết hôn với con chung | 9 |
| CHƯƠNG III: VÍ DỤ VỀ TRƯỜNG HỢP HỦY KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT TRONG THỰC TẾ | 11 |
| CHƯƠNG IV: NHẬN XÉT VỀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA HỦY KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 | 13 |
| 4.1. Điểm khác biệt trong hậu quả pháp lý giữa hủy kết hôn trái pháp luật với ly hôn | 13 |
| 4.2. Điểm mới của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về hậu quả pháp lý của hủy kết hôn trái pháp luật | 13 |
| 4.2.1. Về quan hệ nhân thân | 13 |
| 4.2.2. Về quan hệ tài sản | 14 |
| 4.2.3. Về quan hệ giữa các bên với con chung | 14 |
| 4.2.4. Về người có quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật | 14 |
| 4.3. Một số hạn chế liên quan tới hủy kết hôn trái pháp luật trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và kiến nghị để luật hoàn thiện hơn | 15 |
| KẾT LUẬN | 17 |
| PHỤ LỤC | 19 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 24 |
LỜI MỞ ĐẦU
Kết hôn chính là bước đệm đầu tiên và kiên quyết trong việc xây dựng nên một tổ ấm gia đình. Từ xưa tới nay, hôn nhân vốn giữ vai trò là một hiện tượng xã hội phổ biến và có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với mỗi cá nhân mà còn đối với sự phát triển chung của xã hội. Để đảm bảo về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ hôn nhân, pháp luật hôn nhân và gia đình đã ra đời để điều chỉnh về các vấn đề nảy sinh trong quá trình vợ chồng chung sống với nhau.
Việc kết hôn muốn được duy trì lâu dài và ổn định không thể chỉ hoàn toàn dựa vào ý chí của đôi bên nam, nữ. Muốn việc kết hôn của mình được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ, các bên khi kết hôn phải đáp ứng được các điều kiện mà pháp luật đã đưa ra, kèm theo đó là thực hiện đúng theo quy trình, thủ tục. Thế nhưng, trên thực tế không phải bất cứ chủ thể nào cũng đáp ứng đầy đủ các điều kiện kết hôn. Có trường hợp chưa đủ tuổi đã kết hôn, hoặc bị lừa dối, cưỡng ép kết hôn,… Những trường hợp này được gọi chung là kết hôn trái pháp luật. Để giảm thiểu tình trạng này, cũng là để bảo vệ quyền lợi của mỗi cá nhân kh thực hiện việc kết hôn, pháp luật cho phép họ được yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống như vợ chồng giữa họ đã phát sinh những vấn đề về quyền, nghĩa vụ về tài sản, hoặc thậm chí đã có con chung. Vậy những vấn đề này sẽ được giải quyết như thế nào?
Trên cơ sở đó, chúng ta cần phải nắm vững được quy định về hậu quả pháp lý của hủy kết hôn trái pháp luật theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành, cùng với đó là các văn bản pháp luật có liên quan. Chính vì vậy, tại tiểu luận này, em xin trình bày một số vấn đề liên quan tới “Hậu quả pháp lý của hủy kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014”, cùng với đó là một vài kiến nghị giúp hoàn thiện quy định này nói riêng và hệ thống pháp luật nói chung.
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN
1.1. Khái niệm kết hôn trái pháp luật và hủy việc kết hôn trái pháp luật
Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 6 Điều 3 quy định: “Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này.”[5]
Điều kiện kết hôn cụ thể như sau:
“1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
- Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
- Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
- Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
- Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.
- Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.” (Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).[5]
Về việc hủy kết hôn trái pháp luật, thì đây là việc mà Tòa án ra quyết định tuyên bố việc kết hôn của nam, nữ không có giá trị pháp lý, hai bên kết hôn chưa từng phát sinh quan hệ hôn nhân, việc chung sống giữa họ là vi phạm pháp luật và hai bên nam, nữ phải chấm dứt việc sống chung đó.[8].
1.2. Căn cứ hủy kết hôn trái pháp luật
Kết hôn trái pháp luật là việc kết hôn vi phạm về điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014[5]. Do đó, mỗi điều kiện bị vi phạm sẽ được xem là một căn cứ để hủy kết hôn trái pháp luật. Cụ thể là:
- Nam, nữ kết hôn khi chưa đến tuổi kết hôn luật định;
- Việc kết hôn không đảm bảo sự tự nguyện;
- Người mất năng lực hành vi dân sự nhưng vẫn kết hôn;
- Kết hôn giả tạo
- Kết hôn do bị cưỡng ép, lừa dối; tảo hôn
- Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác
- Những người có cùng dòng máu về trực hệ hoặc những người có họ trong phạm vi ba đời kết hôn với nhau;
- Cha mẹ nuôi kết hôn với con nuôi; những người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng mà lại kết hôn với nhau;
- Hai người cùng giới tính kết hôn với nhau.
Khi có yêu cầu về việc hủy kết hôn trái pháp luật, Tòa án cần dựa vào những căn cứ trên để xác minh, xem xét việc kết hôn có thuộc trường hợp kết hôn trái pháp luật hay không, từ đó có hướng giải quyết phù hợp.
Bên cạnh đó, cần lưu ý thêm rằng khi xử lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, Tòa án phải căn cứ vào quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình có hiệu lực tại thời điểm xác lập quan hệ hôn nhân để xác định việc kết hôn có trái pháp luật hay không. Chẳng hạn, ông A (cán bộ miền Nam) kết hôn với bà B vào năm 1958, sau đó phải tập kết ra Bắc, và trong thời gian này, vào năm 1962 thì kết hôn với bà C. Đến năm 2019, bà B làm đơn yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật giữa ông A và bà C. Trong trường hợp này, chúng ta cần căn cứ vào quy định của pháp luật tại thời điểm những quan hệ hôn nhân này được xác lập, chứ không phải là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Theo đó, tại Thông tư số 60/TATC ngày 22/2/1978 của Tòa án nhân dân tối cao về Hướng dẫn giải quyết việc tranh chấp về hôn nhân và gia đình của cán bộ, bộ đội đã có vợ có chồng ở trong Nam, tập kết ra Bắc lấy vợ lấy chồng khác thì đây là loại việc mang tính chất đặc biệt. Do đó, quyền và lợi ích của các bên đều được pháp luật bảo vệ, tất cả các quan hệ hôn nhân sẽ được pháp luật công nhận, vì vậy đây không là trường hợp kết hôn trái pháp luật.
1.3. Người có quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật
Theo quy định tại Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014[5], những chủ thể có quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật bao gồm:
- Người bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn;
- Vợ, chồng, cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật của người kết hôn trái pháp luật;
- Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
- Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
- Hội liên hiệp phụ nữ.
Như vậy, có nhiều chủ thể khác nhau có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật. Việc pháp luật quy định người có quyền này không chỉ là cá nhân mà còn là các tổ chức xã hội như vậy sẽ giúp giảm thiểu tình trạng kết hôn trái pháp luật, bởi hành vi kết hôn này sẽ dễ bị phát hiện hơn và việc phát hiện sớm sẽ bảo vệ tốt hơn quyền lợi của các bên kết hôn.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 100.000 VNĐ (.docx)