THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 38 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0102.
- Pháp luật áp dụng: Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2024] Kết hôn trái pháp luật theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành 3 B0102 ket hon trai phap luat theo quy dinh cua phap luat viet nam hien hanh 3](https://tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2024/02/B0102-ket-hon-trai-phap-luat-theo-quy-dinh-cua-phap-luat-viet-nam-hien-hanh-3.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT VÀ HỦY KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM | 5 |
| 1.1. Khái quát chung về kết hôn và kết hôn trái pháp luật | 5 |
| 1.1.1. Khái niệm kết hôn | 5 |
| 1.1.2. Điều kiện kết hôn theo pháp luật | 6 |
| 1.2. Khái quát chung về kết hôn trái pháp luật | 7 |
| 1.2.1. Khái niệm kết hôn trái pháp luật | 7 |
| 1.2.2. Các yếu tố dẫn đến việc kết hôn trái pháp luật | 8 |
| 1.1.3. Khái niệm hủy kết hôn trái pháp luật | 11 |
| CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ HỦY KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT | 13 |
| 2.1. Người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật | 13 |
| 2.1.1. Người bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn | 13 |
| 2.1.2. Vợ, chồng, cha, mẹ, con, người giám hộ, người đại diện theo pháp luật của các bên kết hôn | 14 |
| 2.1.3. Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ | 16 |
| 2.1.4. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác | 16 |
| 2.2. Căn cứ hủy kết hôn trái pháp luật và đường lối giải quyết đối với các trường hợp kết hôn trái pháp luật | 16 |
| 2.2.1. Kết hôn trái pháp luật do vi phạm độ tuổi kết hôn | 18 |
| 2.2.2. Kết hôn trái pháp luật do vi phạm sự tự nguyện | 18 |
| 2.2.3. Kết hôn với người mất năng lực hành vi dân sự | 19 |
| 2.2.4. Kết hôn trái pháp luật do vi phạm các trường hợp cấm kết hôn | 23 |
| 2.3. Xử lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật | 23 |
| 2.3.1. Nguyên tắc xử lý chung | 23 |
| 2.3.2. Xử lý cụ thể trong các trường hợp kết hôn trái pháp luật | 25 |
| 2.4. Hậu quả pháp lý của hủy việc kết hôn trái pháp luật | 25 |
| 2.4.1. Quan hệ nhân thân | 26 |
| 2.4.2. Quan hệ tài sản | 26 |
| 2.4.3. Quyền lợi con chung | 26 |
| Chương 3: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ XỬ LÝ HỦY KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP | 28 |
| 3.1. Thực trạng việc kết hôn trái pháp luật và thực tiễn giải quyết hủy việc kết hôn trái pháp luật trong những năm gần đây | 28 |
| 3.1.1. Tảo hôn - vấn đề nhức nhối của xã hội ngày nay | 28 |
| 3.1.2. Kết hôn giả - con đường nhập cư | 30 |
| 3.1.3. Nỗi bất hạnh của người phụ nữ - cảnh chung chồng | 30 |
| 3.2. Phương hướng và giải pháp để hoàn thiện các quy định về hủy kết hôn trái pháp luật | 31 |
| KẾT LUẬN | 33 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 34 |
LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết việc nghiên cứu đề tài
Hôn nhân và gia đình là những hiện tượng xã hội phát sinh trong quá trình phát triển của con người. Với mục đích ban đầu nhằm duy trì và phát triển nòi giống, dần dần sự chung sống giữa nam và nữ được pháp luật thừa nhận với ý nghĩa cao cả hơn hết là xây dựng gia đình. Kết hôn là bước khởi đầu để hình thành nên gia đình. Hôn nhân không chỉ mang giá trị trong mối quan hệ tình yêu nam nữ mà còn có ý nghĩa đối với sự phát triển của đất nước. Xây dựng gia đình hạnh phúc là kim chỉ nam cho đường lối của Đảng và Nhà nước ta qua bao giai đoạn lịch sử. Bởi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định tại Hội nghị cán bộ thảo luận Dự thảo Luật Hôn nhân và gia đình vào tháng 10 – 1959: “Quan tâm đến gia đình là đúng, vì nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt hơn, hạt nhân của xã hội là gia đình. Chính vì vậy, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội là phải chú ý hạt nhân cho tốt”[1].
Tuy nhiên, trong guồng quay của cuộc sống hiện đại, xuất phát từ nhiều nguyên nhân, mối quan hệ giữa con người với nhau ngày càng trở nên đa dạng, phức tạp, trong đó, quan hệ hôn nhân, việc kết hôn giữa vợ chồng cũng không ngoại lệ. Thực tế đã có nhiều trường hợp kết hôn trái pháp luật gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến mối quan hệ gia đình, không chỉ tác động trực tiếp đến quyền lợi của các bên chủ thể, mà còn tác động đến lối sống và đạo đức xã hội, gây trì trệ cho việc phát triển của nước nhà. Kết hôn trái pháp luật không còn là một vấn đề quá mới mẻ đối với hầu hết mọi người, nhưng luôn là vấn đề nhức nhối được toàn xã hội quan tâm và ưu tiên tìm cách giải quyết.
Bài tiểu luận của chúng em với tên đề tài “Kết hôn trái pháp luật theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành” nhằm tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn của kết hôn trái pháp luật ngày nay, hướng xử lý bằng cách hủy việc kết hôn trái pháp luật được quy định cụ thể trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (Luật HNGĐ 2014). Qua đó, giúp mọi người có cái nhìn chính xác và toàn diện hơn về vấn đề kết hôn trái pháp luật, đồng thời đề xuất phương hướng để hoàn thiện quy định của pháp luật, giải pháp nhằm hạn chế và xử lý kịp thời các trường hợp kết hôn trái pháp luật hiện nay.
Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, việc kết hôn trái pháp luật đã gióng lên hồi chuông cảnh báo trong toàn xã hội, không chỉ riêng ở Việt Nam mà là trên toàn thế giới. Tính cho đến nay, có khá nhiều công trình nghiên cứu tập trung vào việc kết hôn trái pháp luật như “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kết hôn trái pháp luật trong tình hình xã hội hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ ngành Luật Dân sự của Nguyễn Huyền Trang[2]. Hay “Hậu quả pháp lý của việc hủy hôn nhân trái pháp luật theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014”, Luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng dân sự năm 2016 của Nguyễn Tài Dương[3].
Ngoài ra còn có một số bài báo, tạp chí chuyên ngành được đăng tải trên các Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Kiểm sát,… đề cập đến việc kết hôn trái pháp luật và hủy kết hôn trái pháp luật như “Về giải quyết hủy kết hôn trái pháp luật, kết hôn không đúng thẩm quyền và nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn” của tác giả PGS.TS Nguyễn Thị Lan – trên Tạp chí Tòa án nhân dân số 7 năm 2019 được phát hành ngày 10/4/2019…
Có thể thấy, vấn đề kết hôn trái pháp luật đã được các tác giả nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau nhưng đa số dựa trên những quy định của Luật HNGĐ 2000 và chưa cập nhật hết các vấn đề mới về lý luận và thực tiễn. Bài tiểu luận của chúng em sẽ thể hiện được góc nhìn mới, quan điểm mới phù hợp với thực trạng cũng như quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành – Luật HNGĐ 2014.
Phạm vi và mục đích nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Nhìn nhận bao quát đề tài dưới nhiều góc độ khác nhau từ lý luận cho đến thực tiễn nhưng sẽ tập trung vào các quy định trong pháp luật Việt Nam hiện hành về việc kết hôn trái pháp luật và hủy kết hôn trái pháp luật, chủ yếu là Luật HNGĐ 2014.
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài: Nhằm làm rõ các vấn đề lý luận kết hôn trái pháp luật trong lĩnh vực HNGĐ; Làm sáng tỏ khái niệm, các yếu tố dẫn đến việc kết hôn trái pháp luật, chủ thể có thẩm quyền, căn cứ hủy việc kết hôn trái pháp luật; Đưa ra cách thức xử lý các trường hợp kết hôn trái pháp luật theo quy định của Luật HNGĐ 2014; Nhìn nhận thực trạng kết hôn trái pháp luật ngày nay, từ đó nêu ra những bất cập cũng như kiến nghị phương thức giải quyết hợp lý, có khả năng thi hành, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Các vấn đề lý luận về kết hôn trái pháp luật, hủy kết hôn trái pháp luật – đặc biệt là các quy định trong Luật HNGĐ 2014. Đồng thời, tìm hiểu về thực trạng kết hôn trái pháp luật trong xã hội ngày nay, thông qua đó đề ra các phương hướng và giải pháp mang tính khả thi cao.
Phương pháp nghiên cứu: Tập trung sử dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết cụ thể như phương pháp khái quát, phân tích và tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa lý thuyết. Dựa trên nền tảng và xuất phát điểm là các tri thức lý luận (các quan điểm, lý thuyết), từ đó đi sâu vào bản chất của vấn đề cần nghiên cứu để có cái nhìn toàn diện, bao quát đối với thực tiễn cuộc sống.
Ý nghĩa thực tiễn của và kết cấu đề tài nghiên cứu
Qua việc nghiên cứu các vấn đề được đặt ra, bài tiểu luận đã thể hiện một cách chi tiết về việc kết hôn trái pháp luật và các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành. Từ đó nêu ra những bất cập, thiếu sót khi áp dụng pháp luật cho tình huống thực tiễn, nhằm đề xuất phương hướng hoàn thiện Luật HNGĐ góp phần nâng cao nhận thức, sự hiểu biết của mỗi người trong quy định về hôn nhân, làm giảm tỷ lệ người dân kết hôn trái pháp luật.
Nội dung của bài tiểu luận gồm 3 chương (không tính Lời mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo):
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về kết hôn trái pháp luật và hủy kết hôn trái pháp luật theo pháp luật Việt Nam.
Chương 2: Pháp luật Việt Nam hiện hành về hủy kết hôn trái pháp luật.
Chương 3: Thực tiễn giải quyết của pháp luật Việt Nam về xử lý hủy kết hôn trái pháp luật – Phương hướng và giải pháp.
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT VÀ HỦY KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1.1. Khái quát chung về kết hôn và kết hôn trái pháp luật
1.1.1. Khái niệm kết hôn
Nhìn từ góc độ xã hội, lịch sử loài người đã chứng minh rằng, khi con người vừa thoát ra khỏi cuộc sống hoang dã của động vật, khái niệm kết hôn chưa được biết đến. Lúc này, quan hệ giữa đàn ông và đàn bà chỉ đơn thuần là quan hệ “tính giao”[4], sự liên kết giữa họ nhằm thỏa mãn những bản năng thuần túy. Thực tế lúc bấy giờ, do điều kiện tự nhiên quyết định, nên con người phải chấp nhận cuộc sống ăn ở chung, chồng chung vợ chạ như Ph.Ănghhen đã viết: “Đấy là hình thức quần hôn, một hình thức hôn nhân trong đó cả từng nhóm đàn ông và cả từng nhóm đàn bà đều là sở hữu của nhau. Trong đó ghen tuông khó lòng phát triển”[5]. Tuy nhiên, trải qua quá trình phát triển của nhân loại, dần dần sự liên kết giữa đàn ông và phụ nữ không chỉ còn là sự ràng buộc đơn thuần mà nó là sự liên kết mang tính xã hội, thể hiện những giá trị văn minh của con người trong mối quan hệ đặc biệt được gọi là “hôn nhân”.
Dưới góc độ xã hội, kết hôn[6] được hiểu là một hình thức xác lập quan hệ vợ chồng. Đây là sự liên kết đặt biệt nhằm tạo dựng các mối quan hệ gia đình. Một trong những chức năng cơ bản của gia đình là sinh sản, nhằm tái sản xuất ra con người, là quá trình duy trì và phát triển nòi giống – quá trình cần thiết của nhân loại.
Dưới góc độ pháp lý, khái niệm kết hôn được xem xét với ý nghĩa là một sự kiện pháp lý hoặc một chế định pháp lý nhằm xác lập quan hệ vợ chồng giữa nam và nữ theo quy định của pháp luật. Nếu như về mặt xã hội, lễ cưới là sự kiện đánh dấu sự chính thức của hôn nhân thì về mặt luật pháp, đó là việc đăng ký kết hôn. Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, phong tục, tập quán cũng như truyền thống văn hóa, pháp luật của mỗi quốc gia có những lựa chọn khác nhau về hình thức xác lập quan hệ vợ chồng. Đối với pháp luật Việt Nam, việc xác lập quan hệ vợ chồng phải được Nhà nước thừa nhận mới được coi là hợp pháp. Kết hôn là cánh cửa mở ra cuộc sống hôn nhân, là cơ sở hình thành gia đình, làm phát sinh các quan hệ thiết yếu trong lĩnh vực hôn nhân – gia đình.
Với ý nghĩa và tầm quan trọng của việc kết hôn, tại khoản 5 Điều 3 Luật HNGĐ 2014, các nhà làm luật đã quy định về khái niệm kết hôn như sau: “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”. Đồng thời điều kiện kết hôn như thế nào, trình tự thủ tục kết hôn ra sao, pháp luật nước ta cũng đã có những quy định chặt chẽ nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người kết hôn được Nhà nước công nhận và bảo hộ.
1.1.2. Điều kiện kết hôn theo pháp luật
Điều kiện kết hôn là những đòi hỏi về mặt pháp lý đối với hai bên nam, nữ và chỉ khi thỏa mãn những đòi hỏi đó thì nam, nữ mới có quyền kết hôn. Luật HNGĐ 2014 quy định việc kết hôn phải tuân theo các điều kiện tại khoản 1 Điều 8 của Luật này[7]. Theo đó:
Về độ tuổi: Pháp luật nước ta chỉ quy định độ tuổi tối thiểu được phép kết hôn, nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên và tuổi được tính theo tuổi tròn dựa vào ngày, tháng, năm sinh.
Về sự tự nguyện: Sự tự nguyện ở đây được hiểu là mong muốn gắn bó, cùng chung sống với nhau để thỏa mãn nhu cầu tình cảm của hai người. Nam, nữ tự quyết đối với việc kết hôn một cách chủ quan theo ý muốn của họ và không bị tác động bởi bất kỳ ai. Tính tự nguyện sẽ được thể hiện thông qua việc nam, nữ cùng trực tiếp ký chứng nhận kết hôn và sổ đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Về năng lực hành vi dân sự: Theo quy định thì người kết hôn phải là người không bị mất năng lực hành vi dân sự và điều kiện để bị coi là một người mất năng lực hành vi dân sự sẽ căn cứ theo khoản 1 Điều 22 BLDS 2015[8]. Quy định này nhằm đảm bảo tính tự nguyện, bảo vệ sự lành mạnh, chất lượng nòi giống, cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng – con cái.
Việc kết hôn không thuộc các trường hợp cấm kết hôn: Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 8 và khoản 2 Điều 5 Luật HNGĐ 2014.
1.2. Khái quát chung về kết hôn trái pháp luật
1.2.1. Khái niệm kết hôn trái pháp luật
Từ khái niệm và những điều kiện kết hôn đã phân tích như trên, thì khi đăng ký kết hôn nếu hai bên nam nữ thỏa mãn đủ theo các điều kiện được pháp luật quy định về độ tuổi, về sự tự nguyện, về năng lực hành vi dân sự và không thuộc trường hợp cấm kết hôn, thì hôn nhân đó được xem là hợp pháp, có giá trị pháp lý. Nếu vi phạm điều kiện kết hôn thì việc kết hôn của họ là trái pháp luật. Quyền kết hôn là quyền của mỗi người, nhưng khi kết hôn thì họ phải tuân thủ theo sự điều chỉnh của pháp luật, phải tuân thủ các điều kiện mà Nhà nước đặt ra, như C.Mác khẳng định tại Bản dự luật về ly hôn: “Không ai bị buộc phải kết hôn nhưng ai cũng buộc phải tuân theo Luật Hôn nhân một khi người đó kết hôn. Người kết hôn không sáng tạo ra hôn nhân, cũng như người bơi lội không sáng tạo, không phát minh ra tự nhiên và những quy luật về nước và trọng lực. Vì thế, hôn nhân không thể phục tùng sự tùy tiện của người kết hôn mà trái lại sự tùy tiện của người kết hôn phải phục tùng bản chất của hôn nhân”[9].
[1] Hồ Chí Minh toàn tập, 2011.
[2] Tác giả chủ yếu đề cập đến các vấn đề lý luận xung quanh quan niệm kết hôn trái pháp luật, những quy định về kết hôn trái pháp luật trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng như thực tiễn kết hôn trái pháp luật hiện nay.
[3] Luận văn tập trung vào khía cạnh hậu quả pháp lý của việc hủy hôn nhân trái pháp luật, do được viết sau khi Luật HNGĐ năm 2014 có hiệu lực nên tác giả đã phân tích được một số điểm mới, cũng như bất cập việc áp dụng pháp luật hiện hành, từ đó kiến nghị giải pháp để sửa đổi.
[4] Mang tính bầy đàn và bừa bãi, có nghĩa là mọi người đàn bà đều thuộc về mọi người đàn ông và ngược lại, điều này được coi là phù hợp với tập quán lúc bấy giờ.
[5] Xem C.Mác – Ph.Ăngghen, Tuyển tập 6, Nxb.Sự thật, Hà Nội 1994, tr.62.
[6] Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Kết hôn là việc nam, nữ chính thức lấy nhau thành vợ thành chồng” [99, tr. 467].
[7] Khoản 1 Điều 8 Luật HNGĐ năm 2014.
“1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này”.
[8] Khoản 1 Điều 22 BLDS 2015.
“1. Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.
Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự”.
[9] C.Mác – Ph.Ăngghen (1998), “Bản dự luật về ly hôn”, Các Mác và Ph. Ăngghen toàn tập, (tập 1), Nxb Sự thật, Hà Nội.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
[Tiểu luận 2024] Kết hôn trái pháp luật theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 100.000 VNĐ (.docx)