THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 27 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0101.
- Pháp luật áp dụng: Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009 và 2019)
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2024] Mối liên hệ giữa nhãn hiệu và tên thương mại theo pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam 2 B0101 moi lien he giua nhan hieu va ten thuong mai theo phap luat so huu tri tue viet nam 2](https://tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2024/02/B0101-moi-lien-he-giua-nhan-hieu-va-ten-thuong-mai-theo-phap-luat-so-huu-tri-tue-viet-nam-2.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: HỆ THỐNG NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NHÃN HIỆU VÀ TÊN THƯƠNG MẠI | 2 |
| 1.1. Văn bản pháp luật quốc tế về nhãn hiệu và tên thương mại | 2 |
| 1.2. Pháp luật Việt Nam về nhãn hiệu và tên thương mại | 3 |
| CHƯƠNG 2: MỐI LIÊN HỆ GIỮA NHÃN HIỆU VÀ TÊN THƯƠNG MẠI THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VIỆT NAM | 4 |
| 2.1. Mối liên hệ giữa nhãn hiệu và tên thương mại trong xác lập quyền SHTT | 4 |
| 2.1.1. Mối liên hệ trong việc xác định dấu hiệu bảo hộ | 4 |
| 2.1.2. Mối liên hệ trong việc xác định điều kiện bảo hộ | 6 |
| 2.1.3. Mối liên hệ trong việc xác định cách thức bảo hộ và phạm vi bảo hộ | 9 |
| 2.2. Mối liên hệ trong việc sử dụng quyền bảo hộ đối với nhãn hiệu và tên thương mại | 11 |
| 2.3. Mối liên hệ trong việc bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu và tên thương mại | 12 |
| Chương 3: THỰC TIỄN TRANH CHẤP GIỮA NHÃN HIỆU VÀ TÊN THƯƠNG MẠI VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ GIỮA NHÃN HIỆU VÀ TÊN THƯƠNG MẠI | 15 |
| 3.1. Thực tiễn tranh chấp giữa nhãn hiệu và tên thương mại | 15 |
| 3.2. Một số đề xuất đối với các vấn đề pháp lý về mối liên hệ giữa nhãn hiệu và tên thương mại | 17 |
| 3.2.1. Quy định về giải quyết xung đột giữa nhãn hiệu và tên thương mại trong bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp theo pháp luật của một số nước trên thế giới | 17 |
| 3.2.2. Một số đề xuất đối với các vấn đề pháp lý về mối liên hệ giữa nhãn hiệu và tên thương mại | 18 |
| KẾT LUẬN | 21 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 22 |
LỜI MỞ ĐẦU
Nhãn hiệu và tên thương mại là những tài sản giá trị và là công cụ cạnh tranh quan trọng của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh, đặc biệt là trong xu hướng hội nhập quốc tế khi Việt Nam đã trở thành viên của WTO vào năm 2007 và có nhiều cơ hội về hợp tác phát triển kinh tế, giao thương thương mại, dịch vụ, tiếp cận với các cơ chế bảo hộ quyền SHTT hữu hiệu hơn. Theo pháp luật SHTT Việt Nam hiện hành, nhãn hiệu và tên thương mại là hai đối tượng độc lập được bảo hộ SHTT dưới dạng đối tượng quyền SHCN. Đây cũng là hai đối tượng có những khía cạnh tương đồng nhau, dẫn đến phát sinh các xung đột, nhầm lẫn khi sử dụng nhãn hiệu và tên thương mại trên thực tế. Vì vậy, việc phân tích pháp luật để có một góc nhìn sâu rộng về mối liên hệ giữa hai đối tượng quyền SHCN này là rất quan trọng trong việc làm rõ pháp luật, giải quyết tranh chấp, đảm bảo quyền và lợi ích của các chủ sở hữu, đặc biệt là hoàn thiện hệ thống pháp luật SHTT cho phù hợp với thực trạng gia nhập vào các tổ chức quốc tế của Việt Nam. Trong bài tiểu luận này, phạm vi nghiên cứu về mối liên hệ giữa nhãn hiệu và tên thương mại theo Luật SHTT tập trung vào những vấn đề sau:
– Hệ thống những quy định của pháp luật về nhãn hiệu và tên thương mại;
– Phân tích mối liên hệ giữa nhãn hiệu và tên thương mại theo quy định của Luật SHTT Việt Nam. Việc phân tích tập trung vào ba nội dung sau: Mối liên hệ trong việc xác lập quyền bảo hộ SHTT; mối liên hệ trong việc sử dụng quyền bảo hộ và mối liên hệ trong việc bảo vệ quyền SHTT;
– Thực tiễn tranh chấp giữa nhãn hiệu và tên thương mại và đề xuất một số giải pháp đối với các vấn đề pháp lý liên quan đến hai đối tượng này.
CHƯƠNG 1: HỆ THỐNG NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NHÃN HIỆU VÀ TÊN THƯƠNG MẠI
1.1. Văn bản pháp luật quốc tế về nhãn hiệu và tên thương mại
Nhãn hiệu và tên thương mại đều được bảo hộ với tư cách là đối tượng SHCN nói chung trong Công ước Paris năm 1883 về bảo hộ quyền SHCN. Đây là một trong những công ước quan trọng về SHCN được kí kết sớm nhất. Theo WIPO, nhãn hiệu và tên thương mại cũng được coi là đối tượng được bảo hộ SHTT, hai đối tượng này đã được nhắc đến trong Điều 2 (8) của Công ước thành lập WIPO ký ngày 14/7/1967. Bên cạnh đó, nhãn hiệu cũng được nhắc đến trong nhiều điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên như: Hiệp định TRIPS, Thoả ước Madrid và Nghị định thư Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hoá, Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ năm 2000, Hiệp định Việt Nam – Thụy Sĩ năm 1999 về SHTT và hợp tác trong lĩnh vực SHTT, Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP),…
Mặc dù việc bảo hộ tên thương mại được chú trọng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới và được quy định riêng trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia, nhưng khác với nhãn hiệu, tên thương mại không được đề cập một cách đầy đủ trong các điều ước quốc tế đa phương. Tuy nhiên trong thực tiễn việc áp dụng về thi hành Hiệp định TRIPS cùng các điều ước tế cho thấy cơ quan chức năng đều xác định tên thương mại là đối tượng được bảo hộ quyền SHCN[1].
Tóm lại, có thể thấy nhãn hiệu và tên thương mại đều đã được các văn bản pháp luật quốc tế quy định là đối tượng của quyền SHTT. Điều này có ý nghĩa trong việc giải quyết tranh chấp khi các bên đến từ các quốc gia khác nhau và là một “khuôn mẫu” trong quá trình nội luật hoá của các quốc gia là thành viên của các công ước, điều ước quốc tế về SHTT.
1.2. Pháp luật Việt Nam về nhãn hiệu và tên thương mại
Hiện nay, có thể thấy Việt Nam đã xây dựng được một hệ thống pháp luật SHTT nói chung và về bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại nói riêng một cách khá đầy đủ, các quy định của các văn bản tương đối chặt chẽ, đồng bộ từ các quy định trong Hiến pháp đến các luật chuyên ngành như: Luật SHTT, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Hải quan… và các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành. Tuy nhiên, so với trước khi hệ thống pháp luật về SHTT này ra đời, vấn đề bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại được đề cập một cách khái quát và không cụ thể qua các văn bản: Bộ luật dân sự 1995, Luật thương mại, Luật doanh nghiệp, Pháp lệnh bảo vệ người tiêu dùng, Nghị định số 63/CP ngày 24/10/1996 quy định chi tiết về SHCN, dẫn đến sự không hiệu quả khi điều chỉnh các đối tượng quyền SHTT. Sự ra đời của Luật SHTT năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung qua các năm 2009 và 2019)[2] và các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành đã đánh dấu bước phát triển của pháp luật Việt Nam về SHTT nói chung và về lĩnh vực SHCN nói riêng và là văn bản pháp lý quan trọng đóng vai trò quan trọng trong hệ thống pháp luật dân sự và đầu tư kinh doanh của Việt Nam, nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và cách mạng công nghiệp 4.0.
Tuy nhiên, sau hơn 15 năm kể từ ngày được thi hành, Luật SHTT 2005 đến nay cũng đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập. Theo đó, một số quy định của Luật SHTT không được quy định rõ ràng hoặc đã không còn phù hợp với thực tiễn khách quan, làm giảm hiệu quả và chất lượng điều chỉnh pháp luật nói chung. Đồng thời, những vấn đề mới bắt đầu xuất hiện và cần bổ sung, chỉnh sửa cho thích hợp. Trong phạm vi bài tiểu luận này, tác giả dưới quan điểm cá nhân cũng sẽ đưa ra một số giải pháp hoàn thiện hơn các vấn đề pháp lý liên quan đến mối liên hệ giữa nhãn hiệu và tên thương mại…
[1] Tiền lệ áp dụng được thể hiện qua tranh chấp nhãn hiệu, tên thương mại “Hanava Club”. Cơ quan phúc thẩm (The WTO Appellate Body) bác bỏ phán quyết của hội đồng (Panel) liên quan đến nhận định tên thương mại không cấu thành một đối tượng sở hữu trí tuệ, đồng thời cơ quan phúc thẩm của WTO khẳng định tên thương mại là một loại tài sản sở hữu trí tuệ, được bảo hộ theo TRIPS.
[2] Sau đây sẽ được gọi tắt là Luật SHTT.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
[Tiểu luận 2024] Mối liên hệ giữa nhãn hiệu và tên thương mại theo pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 100.000 VNĐ (.docx)