THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Kiểm sát Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 21 trang (cả bìa)
- Năm: 2022 / Mã số: B0180.
- Pháp luật áp dụng: Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2022] Phân tích nguyên tắc đảm bảo sự vô tư của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Hãy nêu một số khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn và hướng giải quyết 2 B0180 phan tich nguyen tac dam bao su vo tu cua nguoi co tham quyen tien hanh to tung nguoi tham gia to tung 2](https://tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2024/02/B0180-phan-tich-nguyen-tac-dam-bao-su-vo-tu-cua-nguoi-co-tham-quyen-tien-hanh-to-tung-nguoi-tham-gia-to-tung-2.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ NGUYÊN TẮC ĐẢM BẢO SỰ VÔ TƯ CỦA NGƯỜI CÓ THẨM QUYỀN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG, NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG | 2 |
| 1.1. Khái niệm nguyên tắc đảm bảo sự vô tư của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng | 2 |
| 1.2. Cơ sở của nguyên tắc đảm bảo sự vô tư của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng | 3 |
| 1.3. Nội dung nguyên tắc đảm bảo sự vô tư của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng | 4 |
| 1.3.1. Nội dung của nguyên tắc | 4 |
| 1.3.2. Biểu hiện cụ thể của nguyên tắc đảm bảo sự vô tư của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 | 9 |
| 1.4. Ý nghĩa nguyên tắc đảm bảo sự vô tư của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng | 10 |
| CHƯƠNG II: THỰC TIỄN VỀ VIỆC THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC ĐẢM BẢO SỰ VÔ TƯ CỦA NGƯỜI CÓ THẨM QUYỀN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG, NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG | 13 |
| 2.1. Một số khó khăn, vướng mắc | 13 |
| 2.2. Hướng giải quyết | 14 |
| KẾT LUẬN | 17 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 18 |
LỜI MỞ ĐẦU
Quá trình tố tụng hình sự là một quá trình gồm nhiều giai đoạn, trong đó các giai đoạn này móc xích, liên hệ chặt chẽ với nhau. Nhằm đảm bảo cho quá trình này được diễn ra một cách khách quan, đúng với thực tế thì bên cạnh việc quy định cụ thể về trình tự, thủ tục, nhiệm vụ, quyền hạn mà các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng phải thực hiện thì Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 cũng đã đề ra những nguyên tắc cơ bản, nền tảng cho tố tụng hình sự. Trong đó phải kể đến nguyên tắc “đảm bảo sự vô tư của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng”
Có thể thấy, không phải bất cứ lúc nào người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng cũng có thể làm việc một cách vô tư mà nhiều lúc họ cũng đã có những biểu hiện không khách quan, thiếu công bằng. Điều này xuất phát từ nhiều khía cạnh, có thể là do chính bản thân họ hoặc cũng có thể do ngoại cảnh tác động. Do vậy mà nguyên tắc “đảm bảo sự vô tư của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng” có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giải quyết, phản ánh đúng tính chất của vụ án và cũng có thể xem nguyên tắc này như “kim chỉ nam” cho tố tụng hình sự.
Từ những lý do trên tác giả đã quyết định chọn đề tài: “Phân tích nguyên tắc đảm bảo sự vô tư của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Hãy nêu một số khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn và hướng giải quyết” để làm báo cáo trong bài thi kết thúc học phần.
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ NGUYÊN TẮC ĐẢM BẢO SỰ VÔ TƯ CỦA NGƯỜI CÓ THẨM QUYỀN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG, NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG
1.1. Khái niệm nguyên tắc đảm bảo sự vô tư của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng
Từ điển Tiếng việt đã đề ra khái niệm “vô tư” như sau: “1. Không nghĩ đến lợi ích riêng tư. Sự giúp đỡ hào hiệp, vô tư. 2 Không thiên vị ai cả. Một trọng tài vô tư. Nhận xét một cách vô tư, khách quan”. Trong bản tóm tắt luận án tiến sĩ luật học của mình, tác giả Trần Thu Hạnh cho rằng vô tư là “một khái niệm chỉ trạng thái chủ quan của con người khi thực hiện một hoạt động xã hội nào đó có thể là hành động mang tính “vật chất” hoặc hoạt động tư duy của con người” [5]; Có thể hiểu một cách chung nhất “vô tư” là sự xem xét, đánh giá giải quyết các tranh chấp một cách không thiên vị, khách quan, không có thiên kiến hay định kiến ủng hộ, chống đối một quan điểm nào nhằm đảm bảo công bằng, công lý giữa các bên liên quan. Đảm bảo sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng là thiết lập một cơ chế để bảo đảm cho sự vô tư của những người này trong quá trình tố tụng hình sự để họ không thiên vị.
Tựu chung lại nguyên tắc đảm bảo sự vô tư của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng là những tư tưởng mang tính xuất phát điểm, có tính chủ đạo, định hướng cho toàn bộ hoạt động xây dựng, thực thi, kiểm soát pháp luật tố tụng hình sự hướng tới mục đích giải quyết vụ án khách quan, công bằng, dân chủ, bảo đảm công lý trong giải quyết vụ án hình sự [6];
Từ khái niệm trên có thể thấy một khi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tuân thủ nguyên tắc này rõ ràng chân lý, sự thật sẽ được nhận thức, xác lập, sự vô tư là điều kiện cơ bản, tiên quyết để chúng ta có một quy trình tố tụng công minh, chính xác, để chúng ta có thể tạo dựng và củng cố niềm tin cho mọi người.
1.2. Cơ sở của nguyên tắc đảm bảo sự vô tư của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng
Xuất phát từ thực tế là làm thế nào để chúng ta bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng, đặc biệt là bị can, bị cáo và bị hại, đảm bảo sự công bằng và sự thật khách quan của vụ án. Bởi lẽ không phải lúc nào thì những người tham gia tố tụng, người tiến hành tố tụng cũng thực sự vô tư. Như trong trường hợp họ là người nhà của nhau, vợ chồng của nhau, hoặc họ có mối thân tình với nhau… những trường hợp này sẽ làm cho những người tham gia tố tụng, người tiến hành tố tụng có sự thiên vị, định kiến tạo nên sự không công bằng. Điều này sẽ ảnh hưởng tới việc thực thi pháp luật, làm giảm lòng tin của người dân và ngay cả trong trường hợp người tiến hành tốt tụng, người tham gia tố tụng có thực sự công tâm thì những người xung quanh cũng không có sự tin tưởng một cách tuyệt đối với sự tham gia của họ vào quá trình tố tụng. Chính vì những lí do trên mà nguyên tắc được đặt ra.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 100.000 VNĐ (.docx)