THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 19 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0100.
- Pháp luật áp dụng: Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2024] Nguyên tắc suy đoán vô tội trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 2 B0100 nguyen tac suy doan vo toi trong bo luat to tung hinh su nam 2015 2 2](https://tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2024/02/B0100-nguyen-tac-suy-doan-vo-toi-trong-bo-luat-to-tung-hinh-su-nam-2015-2-2.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC SUY ĐOÁN VÔ TỘI | 2 |
| 1.1. Khái niệm nguyên tắc suy đoán vô tội | 2 |
| 1.2. Nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội | 2 |
| 1.2.1. Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật | 3 |
| 1.2.2. Trách nhiệm chứng minh | 4 |
| 1.2.3. Quyền chứng minh và tính loại trừ | 5 |
| 1.3. Ý nghĩa của nguyên tắc suy đoán vô tội. | 5 |
| 1.3.1. Giải quyết và chứng minh vụ án | 5 |
| 1.3.2. Định hướng xây dựng và thực hiện pháp luật | 6 |
| 1.3.3. Bảo vệ chính sách nhân đạo và lợi ích của người bị truy cứu | 6 |
| CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN THỰC HIỆN VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC NGUYÊN TẮC SUY ĐOÁN VÔ TỘI TẠI VIỆT NAM | 8 |
| 2.1. Thực tiễn áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội trong các Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1989 - 2003 | 8 |
| 2.2. Thực tiễn áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội trong các Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 | 9 |
| 2.3. Vấn đề cần khắc phục trong thực tiễn áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội | 12 |
| 2.3.1. Khắc phục tư tưởng coi người bị cáo buộc phạm tội là người có tội của người tiến hành tố tụng | 12 |
| 2.3.2. Khắc phục tình trạng khi không đủ chứng cứ thuyết phục | 13 |
| 2.3.3. Khắc phục tình trạng không tuân thủ nghiêm chỉnh thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án | 14 |
| KẾT LUẬN | 15 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 16 |
LỜI MỞ ĐẦU
Tố tụng hình sự (TTHS) là một lĩnh vực đụng chạm trực tiếp tới các quyền tự do, dân chủ, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đặc biệt là người bị bắt giữ, bị can, bị cáo. Vì vậy, chống lại sự lạm quyền và bảo vệ có hiệu quả quyền con người, quyền công dân trong TTHS là một trong những nội dung rất quan trọng được cộng đồng quốc tế và mỗi quốc gia đều quan tâm. Việc đề cao và bảo vệ tất cả các quyền con người và các quyền tự do cơ bản phải được coi là một mục tiêu ưu tiên của Liên hợp quốc, là mối quan tâm chính đáng của cộng đồng quốc tế. Để đạt mục tiêu trên, các văn kiện quan trọng của Liên hợp quốc đã quy định các nguyên tắc và điều kiện cần thiết, trong đó suy đoán vô tội (SĐVT) được ghi nhận là quyền con người, quyền cơ bản của mọi cá nhân và là một nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế: “Bất kỳ người bị buộc tội nào đều có quyền được suy đoán là không phạm tội, được coi là vô tội cho tới khi hành vi phạm tội được chứng minh theo pháp luật”.
Ngày nay hầu hết pháp luật của các quốc gia trong đó có Việt Nam đều thừa nhận SĐVT là một nguyên tắc cơ bản của TTHS. Đây là cơ sở pháp lý để hoàn thiện hệ thống pháp luật ở nước ta nói chung và BLTTHS nói riêng. Tuy nhiên, về SĐVT hiện nay đang còn những quan điểm khác nhau về một số vấn đề lý luận như: khái niệm, nội dung và phạm vi áp dụng; trách nhiệm chứng minh tội phạm;…Việc nghiên cứu nhằm xác định đầy đủ nội hàm của nguyên tắc SĐVT và các nguyên tắc của TTHS nói chung, và cụ thể hóa đầy đủ, chính xác các nguyên tắc này trong BLTTHS (Bộ luật Tố tụng Hình sự) là vấn đề cấp thiết. Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “Nguyên tắc suy đoán vô tội trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015” với mong muốn tìm hiểu rõ hơn về nguyên tắc đặc thù này của pháp luật tố tụng hình sự, qua đó làm rõ những điểm còn bất cập trong việc áp dụng nguyên tắc này từ thực tiễn tại Việt nam từ đó đề xuất các giải pháp thi hành nghiêm chỉnh và hiệu quả nguyên tắc này.
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC SUY ĐOÁN VÔ TỘI
1.1. Khái niệm nguyên tắc suy đoán vô tội
Theo Từ điển Bách khoa luật học, suy đoán vô tội là trạng thái mà theo đó người bị buộc tội được suy đoán vô tội trong khi việc phạm tội của người đó chưa được chứng minh theo trình tự luật định. Suy đoán vô tội là một trong những nguyên tắc của nền tố tụng dân chủ, theo đó người bị buộc tội được suy đoán vô tội trong khi việc phạm tội của người đó chưa được chứng minh theo trình tự luật định và chưa được xác định bởi phán quyết đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án.. Thuật ngữ này còn có tên gọi khác là “the right to be presumed innocent”, với nghĩa là quyền được giả định vô tội, theo đó, người bị cáo buộc thực hiện một tội phạm được coi là không có tội cho đến khi cơ quan công tố thuyết phục được Tòa án rằng bị cáo đã phạm tội.
Ngay từ năm 1948, trong văn kiện quan trọng đầu tiên của Liên hiệp quốc về quyền con người là Tuyên ngôn thế giới về Quyền con người đã khẳng định: “Mỗi bị cáo dù đã bị buộc tội có quyền được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm tội theo luật pháp tại một phiên toà xét xử công khai với mọi bảo đảm biện hộ cần thiết”. Thể chế hóa quy định của Tuyên ngôn thế giới về Quyền con người, khoản 2 Điều 14 Công ước quốc tế về các Quyền dân sự và chính trị năm 1966 quy định: “Người bị buộc là phạm một tội hình sự có quyền được coi là vô tội cho tới khi tội của người đó được chứng minh theo pháp luật”.
1.2. Nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội
Với tư cách là văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất, là những quy phạm pháp luật cơ bản và quan trọng nhất của hệ thống pháp luật quốc gia, Hiến pháp 2013 quy định: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” (khoản 1 Điều 31). Cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) Việt Nam 2015 được xây dựng, và thực hiện theo 27 nguyên tắc cơ bản (từ Điều 7 đến Điều 33), bổ sung và quy định lần đầu tiên nguyên tắc suy đoán vô tội: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội”..
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
[Tiểu luận 2024] Nguyên tắc suy đoán vô tội trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 50.000 VNĐ (.docx)