THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Kiểm sát Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 19 trang (cả bìa)
- Năm: 2022 / Mã số: B0161.
- Pháp luật áp dụng: Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2022] Phân tích nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Bài 2) 2 B0161 phan tich nhiem vu quyen han va trach nhiem cua kiem sat vien theo quy dinh cua bo luat to tung hinh su 2](https://tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2024/02/B0161-phan-tich-nhiem-vu-quyen-han-va-trach-nhiem-cua-kiem-sat-vien-theo-quy-dinh-cua-bo-luat-to-tung-hinh-su-2.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| PHẦN MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VÀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA KIỂM SÁT VIÊN THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015 | 2 |
| 1.1. Một số vấn đề chung và nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của kiểm sát viên | 2 |
| 1.1.1. Kiểm sát viên | 2 |
| 1.1.2. Khái niệm nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của kiểm sát viên | 2 |
| 1.2. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của kiểm sát viên theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. | 3 |
| 1.2.1. Về nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm sát viên theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 | 3 |
| 1.2.2. Về trách nhiệm của kiểm sát viên theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 | 9 |
| CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VIỆC THỰC HIỆN NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA KIỂM SÁT VIÊN | 11 |
| 2.1. Thực trạng việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của kiểm sát viên | 11 |
| 2.1.1. Những kết quả đạt được trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của kiểm sát viên | 11 |
| 2.1.2. Những hạn chế, vướng mắc trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của kiểm sát viên và nguyên nhân dẫn tới tình trạng đó. | 12 |
| 2.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của kiểm sát viên | 13 |
| KẾT LUẬN | 15 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 16 |
LỜI MỞ ĐẦU
Kiểm sát viên là một trong người có thẩm quyền tiến hành tố tụng quan trọng trong tố tụng hình sự. Trước mỗi vụ án, kiểm sát viên là người được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự sẽ trực tiếp thực hiện những hành vi theo quy định của pháp luật và theo sự chỉ đạo của Viện trưởng cùng cấp. Những quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của kiểm sát viên có đầy đủ, hợp lý thì mới tạo điều kiện cho kiểm sát viên thực hiện tốt trên thực tế. Trong nhiệm vụ cải cách tư pháp thì vấn đề cải cách hệ thống viện kiểm sát nhân dân đã tập trung cải cách các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của kiểm sát viên là nội dung rất quan trọng và đang được quan tâm nghiên cứu ở các khía cạnh và mức độ khác nhau.
Tuy nhiên, những quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của kiểm sát viên ở nước ta còn nhiều bất cập, chưa thể hiện hết được tầm quan trọng của kiểm sát viên khi thực hiện chức năng của Viện kiểm sát, chưa phát huy được tính độc lập của kiểm sát viên trong những trường hợp cụ thể; đã làm hạn chế rõ rệt chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự của kiểm sát viên. Đồng thời, những quy định này còn bị hạn chế từ chính quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng, Phó Viện trưởng vì những quy định này chưa thể hiện sự phân định rõ ràng giữa thẩm quyền quản lý hành chính và thẩm quyền tố tụng. Điều này khiến cho việc quy định nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm sát viên khi giải quyết các vụ án hình sự bị thu hẹp, khiên cương và có phần bất hợp lý. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, cũng như để thực hiện tốt công tác này, đòi hỏi phải có sự tìm tòi, nghiên cứu thấu đáo khẩn trương cả về lý luận và thực tiễn. Vì vậy, trong phạm vi bài tập tiểu luận cá nhân môn Tố tụng Hình sự tôi đã chọn đề số 3: “Phân tích nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015” để làm đề tài nghiên cứu.
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VÀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA KIỂM SÁT VIÊN THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015
1.1. Một số vấn đề chung và nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của kiểm sát viên
1.1.1. Kiểm sát viên
Trong tố tụng hình sự, KSV là một trong những người tiến hành tố tụng được quy định tại khoản 2 Điều 33 BLTTHS năm 2015. Để giải quyết một vụ án hình sự, Nhà nước giao thẩm quyền cho một số người nhất định được sử dụng quyền lực của Nhà nước thực hiện việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Những người này khi thực hiện nhiệm vụ được giao có quyền áp dụng các biện pháp hợp pháp do pháp luật quy định, tiến hành các hoạt động tố tụng cần thiết nhằm giải quyết vụ án hình sự một cách chính xác, nhanh chóng, bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân [4].
Người tiến hành tố tụng là người được bổ nhiệm, được bầu hoặc cử theo quy định của pháp luật và được phân công điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự [5]. Nói cách khác, người tiến hành tố tụng là những người đại diện cho cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ trong các giai đoạn tố tụng.
Trong những người tiến hành tố tụng tại Viện Kiểm Sát thì KSV là một chức danh tư pháp và được sắp xếp theo ngạch. Theo quy định tại điều 74 LTCVKSND năm 2014 thì về khái niệm của KSV như sau: “Kiểm sát viên là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”.
Kiểm sát viên được sắp xếp theo các ngạch khác nhau, bao gồm: KSV nhân dân tối cao; KSV cao cấp; KSV trung cấp; KSV sơ cấp.
1.1.2. Khái niệm nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của kiểm sát viên
Nhiệm vụ của kiểm sát viên trong tố tụng hình sự là hệ thống những hoạt động mà KSV phải tiến hành, các hoạt động này được pháp luật quy định hoặc theo sự phân công của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp nhằm thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp.
Quyền hạn của kiểm sát viên trong tố tụng hình sự là hệ thống những quyền năng pháp lý được pháp luật quy định mà KSV được làm, khi tiến hành hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp nhằm đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Trách nhiệm của kiểm sát viên trong tố tụng hình sự là hậu quả bất lợi mà KSV phải gánh chịu theo quy định của pháp luật hoặc trước Viện trưởng về những hành vi vi phạm của mình khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Được quy định tại Khoản 2 Điều 42 BLTTHS năm 2015: “Kiểm sát viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Viện trưởng Viện kiểm sát, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát về hành vi, quyết định của mình”. Như vậy trong tố tụng hình sự, trách nhiệm của KSV cũng có sự phân định giữa “trách nhiệm của KSV trước pháp luật” và “trách nhiệm của KSV trước Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát”.
1.2. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của kiểm sát viên theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
1.2.1. Về nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm sát viên theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Tại khoản 1 điều 42 BLTTHS năm 2015 có quy định: “Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự có những nhiệm vụ, quyền hạn….”
Theo đó, hai hoạt động chính của KSV trong tố tụng hình sự là “thực hành quyền công tố” và “kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự” hai hoạt động đó được hiểu như sau:
“Thực hành quyền công tố” là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử. Phạm vi thực hành quyền công tố bắt đầu từ khi khởi tố vụ án hình sự và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật hoặc vụ án được đình chỉ khi có một trong những căn cứ do luật TTHS quy định.
“Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự” chính là kiểm sát các hoạt động của các chủ thể sau đây:
– Cơ quan tiến hành tố tụng gồm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án;
– Người tiến hành tố tụng bao gồm những người được bổ nhiệm hoặc bầu hay cử vào các chức danh tố tụng, có thẩm quyền thực hiện những hoạt động tố tụng nhất định trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đó nhằm góp phần giải quyết vụ án hình sự;
– Người tham gia tố tụng bao gồm người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch…
– Các chủ thể khác mà trong một chừng mực nhất định cũng thực hiện các hoạt động TTHS: Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; các cơ quan, tổ chức và công dân trong việc thực hiện một số biện pháp ngăn chặn, thi hành bản án, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng…
Có thể thấy, các nhiệm vụ, quyền hạn của KSV được quy định từ điểm a đến điểm p khoản 1 Điều 42 BLTTHS thực chất chỉ là cụ thể hóa hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự. Cụ thể đối với vụ án hình sự từ giai đoạn khởi tố vụ án đến giai đoạn thi hành bản án, KSV có những nhiệm vụ quyền hạn như sau…
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 100.000 VNĐ (.docx)