THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 05 trang (Không bao gồm bìa, Mục lục)
- Năm: 2025 / Mã số: B0782.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2025] Phân loại nghĩa vụ dân sự, cho ví dụ tình huống thực tiễn để minh họa? 2 phan loai nghia vu dan su cho vi du tinh huong thuc tien de minh hoa 2](https://bunny-wp-pullzone-evwxkqab4s.b-cdn.net/wp-content/uploads/2025/01/phan-loai-nghia-vu-dan-su-cho-vi-du-tinh-huong-thuc-tien-de-minh-hoa-2.png)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| PHẦN I. NGHĨA VỤ DÂN SỰ LÀ GÌ? | 1 |
| PHẦN II. PHÂN LOẠI NGHĨA VỤ DÂN SỰ | 3 |
| 2.1. Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh nghĩa vụ. | 3 |
| 2.2. Căn cứ vào đối tượng của nghĩa vụ | 3 |
| 2.3. Căn cứ phạm vi chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ và mối liên quan giữa quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ | 3 |
| 2.4. Căn cứ vào mối quan hệ phụ thuộc giữa các nghĩa vụ. | 4 |
| 2.5. Căn cứ đặc điểm đối tượng của nghĩa vụ. | 4 |
| PHẦN III. VÍ DỤ TÌNH HUỐNG THỰC TIỄN | 5 |
TẢI VỀ: Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu! |
NỘI DUNG TIỂU LUẬN
PHẦN I. NGHĨA VỤ DÂN SỰ LÀ GÌ?
Nghĩa vụ, theo nghĩa chung nhất là việc mà theo quy định của pháp luật hay vì đạo đức mà bắt buộc phải làm hoặc không được làm đối với xã hội, đối với người khác. Theo cách hiểu này thì nghĩa vụ là mối liên hệ giữa hai hay nhiều người với nhau, trong đó một bên phải thực hiện hoặc không được thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định vì lợi ích của bên kia.
Việc một bên phải thực hiện hoặc không được thực hiện một số hành vi nhất định có thể không được đặt dưới sự bảo đảm của nhà nước bằng pháp luật, pháp luật không buộc người đó phải thực hiện, họ thực hiện công việc đó hoàn toàn theo lương tâm và vì uy tín của mình. Ở phương diện này, nghĩa vụ được điều chỉnh bởi các quy phạm đạo đức và thuộc về nghĩa vụ đạo đức. Chẳng hạn, giúp người già qua đường, giúp đỡ người tàn tật, nhường chỗ cho người già, phụ nữ trên xe buýt… là những công việc phải làm vì đạo đức.
Những công việc phải làm hoặc không được phép làm theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ pháp luật nói chung. Trong đó, các công việc phải làm hoặc không được phép làm theo quy định của pháp luật dân sự là nghĩa vụ dân sự.
Nghĩa vụ có thể được hiểu là một bộ phận không tách rời trong nội dung của một quan hệ pháp luật dân sự. Bao gồm những hành vi mà một bên chủ thể phải thực hiện vì lợi ích của chủ thể bên kia như chuyển giao tài sản, thực hiện một công việc hoặc không được thực hiện một công việc đã được các bên tham gia quan hệ đó hoặc pháp luật xác định v.v. Bên có nghĩa vụ phải thực hiện các nghĩa vụ trước quyền yêu cầu của phía bên kia.
Mặt khác, nghĩa vụ còn được hiểu là một quan hệ pháp luật, trong đó quyền dân sự và các nghĩa vụ dân sự của các bên chủ thể phát sinh từ quan hệ đó phải được thực hiện dưới sự đảm bảo của pháp luật.
Các Bộ luật dân sự của Việt Nam thời Pháp thuộc (Bộ dân luật Bắc kì năm 1931 và Bộ dân luật Trung kì năm 1936) đã có những định nghĩa về nghĩa vụ dân sự:
“Nghĩa vụ dân sự là mối liên lạc về luật thực tại hay luật thiên nhiên, bó buộc một hay nhiều người phải làm hay đừng làm sự gì đoi với một hay nhiều người nào đó.
Người bị bó buộc vào nghĩa vụ gọi là người mắc nợ, người được hưởng nghĩa vụ gọi là người chủ nợ”.
“Nghĩa vụ là cái dây liên lạc về luật thực tại hay luật thiên nhiên bó buộc một hay nhiều ngiỉời phải làm hay đừng làm sự gì đối với một hay nhiều người nào đó, người bị bó buộc là người mắc nợ hay trái hộ, người được hưởng là chủ nợ hay trái chủ”.
“Nghĩa vụ về luật thiên nhiên thì không thể tố tụng trước tòa án được”.
“Nghĩa vụ thuộc về luật thiên nhiên là nghĩa vụ không thể cưỡng bách thi hành”.
Theo quy định trong hai Bộ dân luật nói trên thì ngoài nghĩa vụ thuộc về luật thực tại còn bao gồm nghĩa vụ thuộc về luật thiên nhiên. Thực ra, nghĩa vụ thuộc về luật thiên nhiên chỉ được đưa vào khái niệm cho hợp với truyền thống và phong tục của người Á Đông mà hoàn toàn không có sự cưỡng chế của pháp luật. Vì vậy, dù đã được quy định trong Bộ luật nhưng nghĩa vụ thuộc về luật thiên nhiên (nghĩa vụ tự nhiên) vẫn chỉ là nghĩa vụ luân lí.
Nghĩa vụ được định nghĩa tại Điều 274 Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:
“Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thế khác (sau đây gọi chung là bên có quyền).
PHẦN II. PHÂN LOẠI NGHĨA VỤ DÂN SỰ
Căn cứ pháp lý: Từ điều 286 đến điều 291 BLDS 2015
Đối với nghĩa vụ, có nhiều cách phân loại khác nhau dựa trên nhiều căn cứ khác nhau.
2.1. Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh nghĩa vụ.
Nghĩa vụ theo hợp đồng: là nghĩa vụ phát sinh theo ý chí của chủ thể tham gia quan hệ nghĩa vụ. Nghĩa vụ phát sinh trên cơ sở thỏa thuận giữa các chủ thể. Quyền và nghĩa vụ được xác lập hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của chủ thể tham gia quan hệ nghĩa vụ.
Nghĩa vụ ngoài hợp đồng: nghĩa vụ phát sinh theo ý chí của nhà nước. Gồm: thực hiện công việc không có ủy quyền, chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật và gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật.
2.2. Căn cứ vào đối tượng của nghĩa vụ
Đối tượng là tài sản: Bên có nghĩa vụ phải chuyển giao một tài sản cho bên có quyền.
Đối tượng là công việc: Bên có nghĩa vụ phải thực hiện một công việc được xác định cụ thể trước bên có quyền hoặc bên có nghĩa vụ không được thực hiện một công việc được xác định cụ thể trước bên có quyền.
2.3. Căn cứ phạm vi chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ và mối liên quan giữa quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ
Nghĩa vụ dân sự riêng rẽ: Khi nhiều người cùng thực hiện một nghĩa vụ dân sự, nhưng mỗi người có một phần nghĩa vụ nhất định và riêng rẽ với nhau thì mỗi người chỉ phải thực hiện phần nghĩa vụ của mình. Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể hoàn toàn độc lập với nhau.
Nghĩa vụ dân sự liên đới: Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể có mối liên hệ chặt chẽ. Nghĩa vụ dân sự liên đới là nghĩa vụ do nhiều người cùng phải thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ.
Trong trường hợp một người đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu những người có nghĩa vụ liên đới khác phải thực hiện phần nghĩa vụ liên đới của họ đối với mình. Trong trường hợp bên có quyền đã chỉ định một trong số những người có nghĩa vụ liên đới thực hiện toàn bộ nghĩa vụ, nhưng sau đó lại miễn cho người đó thì những người còn lại cũng được miễn thực hiện nghĩa vụ. Trong trường hợp bên có quyền chỉ miễn việc thực hiện nghĩa vụ cho một trong số những người có nghĩa vụ liên đới không phải thực hiện phần nghĩa vụ của mình thì những người còn lại vẫn phải liên đới thực hiện phần nghĩa vụ của họ.
2.4. Căn cứ vào mối quan hệ phụ thuộc giữa các nghĩa vụ.
Nghĩa vụ chính: Tồn tại hiệu lực một cách độc lập không phụ thuộc vào nghĩa vụ khác.
Nghĩa vụ phụ: Sự tồn tại hiệu lực của nghĩa vụ phụ thuộc vào nghĩa vụ chính.
2.5. Căn cứ đặc điểm đối tượng của nghĩa vụ.
Nghĩa vụ thực hiện được theo phần: Đối tượng của nghĩa vụ là tài sản có thể chia được hoặc công việc có thể được thực hiện theo nhiều công đoạn khác nhau.
Nghĩa vụ không thực hiện được theo phần: Đối tượng của nghĩa vụ là vật không chia được hoặc công việc phải thực hiện cùng lúc.
PHẦN III. VÍ DỤ TÌNH HUỐNG THỰC TIỄN
Ngày 20/08/2023, A là sinh viên trường đại học Mở Hà Nội đến trung tâm điện máy Nguyễn Kim trên đường Nguyễn Chí Thanh mua 1 chiếc lò vi sóng trị giá 2 triệu đồng, A thanh toán tiền cho nhân viên bán hàng và yêu cầu nhân viên giao tài sản vào ngày 20/08/2023 nhưng không nói rõ địa điểm vận chuyển. Căn cứ vào các thông tin về địa chỉ A ghi trên phiếu mua hàng nhân viên vận chuyển của Trung Tâm Nguyễn Kim đã vận chuyển chiếc Lò vi sóng đến cổng trường đại học Mở Hà Nội. Khi đến nơi, nhân viên vận chuyển gọi cho A nhưng A không ra nhận vì A cho rằng pháp luật dân sự Việt Nam quy định trong trường hợp không thỏa thuận về địa điểm thực hiện nghĩa vụ thì bên bán phải vận chuyển tài sản đến nơi cư trú của A, trụ sở của trường Đại học Mở Hà Nội không phải nơi cư trú của A. Hỏi: Nhận định của A đúng hay sai? Tại sao? Giải quyết tình huống trên?
Nhận định của A trong trường hợp này hoàn toàn chính xác. Địa chỉ trường Đại học Mở Hà Nội chỉ là nơi A đang theo học không phải là nơi A thường xuyên sinh sống, cũng không phải nơi A đang sinh sống theo quy định tại Điều 40, Bộ luật dân sự năm 2015.
Giải quyết tình huống trên: Theo quy định tại khoản 2, Điều 277, Bộ luật dân sự năm 2015 thì địa điểm thực hiện nghĩa vụ giao hàng của bên bán là tại nơi cư trú của A. Do đó, trung tâm điện máy Nguyên Kim phải xác định được nơi A thường xuyên sinh sống, tuy nhiên trong trường hợp này, A có nghĩa vụ phải cung cấp nơi cư trú của mình cho bên bán để bên bán giao tài sản.
[… Vui lòng tải về để sao chép nội dung tài liệu này]
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ: Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu! |