THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 20 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0076.
- Pháp luật áp dụng: Bộ luật Lao động năm 2019.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2024] Phân tích các quy định pháp luật về cho thuê lại lao động và đề xuất kiến nghị 2 phan tich cac quy dinh phap luat ve cho thue lai lao dong va de xuat kien nghi 2](https://tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2024/02/phan-tich-cac-quy-dinh-phap-luat-ve-cho-thue-lai-lao-dong-va-de-xuat-kien-nghi-2.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHO THUÊ LẠI LAO ĐỘNG VÀ PHÁP LUẬT CHO THUÊ LẠI LAO ĐỘNG | 2 |
| 1.1. Khái quát chung về cho thuê lại lao động | 2 |
| 1.1.1. Định nghĩa cho thuê lại lao động | 2 |
| 1.1.2. Đặc điểm cho thuê lại lao động | 2 |
| 1.2. Pháp luật cho thuê lại lao động | 4 |
| 1.2.1. Nguyên tắc của pháp luật điều chỉnh hoạt động cho thuê lại lao động | 4 |
| 1.2.2. Nội dung của pháp Luật cho thuê lại lao động | 5 |
| CHƯƠNG 2: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CHO THUÊ LẠI LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM | 11 |
| 2.1. Về điều kiện cho thuê lại lao động | 11 |
| 2.2. Về hợp đồng cho thuê lại lao động | 12 |
| 2.2.1. Về nội dung hợp đồng cho thuê lại lao động | 12 |
| 2.2.2. Về hợp đồng cho thuê lại lao động vô hiệu | 13 |
| 2.2.3. Về các trường hợp chấm dứt hợp đồng cho thuê lại lao động | 14 |
| KẾT LUẬN | 15 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 16 |
| PHỤ LỤC | 17 |
LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế nước ta trong những năm gần đây đang phát triển một cách mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ra đời của nhiều doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế nhà nước và tư nhân là điều tất yếu. Như đã biết nguồn lao động của Việt Nam luôn nằm trong ngưỡng dồi dào ở tất cả các ngành nghề, lĩnh vực. Chính vì xu thể phát triển của xã hội mà theo đó các quan hệ xã hội mới cũng phát sinh theo như việc cho thuê lại nguồn lao động giữa các doanh nghiệp với nhau. Trong bối cảnh hiện nay khi mà BLLĐ 2019 có hiệu lực thay thế cho BLLĐ 2012, đây là đầu tiên có sự thay đổi ở tầm văn bản luật kể từ khi hoạt động CTLLĐ được ký nhận chính thức trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Vì vậy để có nhận thức rõ hơn về lý luận và thực tiễn đã đề ra, em xin được phép chọn đề tài: “Phân tích các quy định pháp luật về cho thuê lại lao động và đề xuất một số kiến nghị”.
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHO THUÊ LẠI LAO ĐỘNG VÀ PHÁP LUẬT CHO THUÊ LẠI LAO ĐỘNG
1.1. Khái quát chung về cho thuê lại lao động
1.1.1. Định nghĩa cho thuê lại lao động
Theo quy định tại khoản 1 Điều 53 BLLĐ năm 2012 – Bộ luật đầu tiên điều chỉnh lĩnh vực CTLLĐ (trước đó là BLLĐ năm 1994 thì chưa xuất hiện khái niệm này) thì: “1. Cho thuê lại lao động là việc NLĐ đã được tuyển dụng bởi doanh nghiệp được cấp phép hoạt động CTLLĐ sau đó làm việc cho NSDLĐ khác, chịu sự điều hành của NSDLĐ sau và vẫn duy trì quan hệ lao động với doanh nghiệp CTLLĐ”.
Còn BLLĐ năm 2019 hiện hành, quy định chi tiết hơn tại khoản 1 Điều 52 như sau: “1. Cho thuê lại lao động là việc NLĐ giao kết hợp đồng lao động với một NSDLĐ là doanh nghiệp CTLLĐ, sau đó NLĐ được chuyển sang làm việc và chịu sự điều hành của NSDLĐ khác mà vẫn duy trì quan hệ lao động với NSDLĐ đã giao kết hợp đồng lao động”.
Về cơ bản, nội dung mà định nghĩa về CTLLĐ trong BLLĐ 2019 không có gì thay đổi so với BLLĐ 2012, các nhà làm luật chủ yếu thay đổi cách diễn đạt mối quán hệ CTLLĐ theo hướng làm rõ hơn vai trò, vị trí của các chủ thể[1].
1.1.2. Đặc điểm cho thuê lại lao động
Thứ nhất, CTLLĐ vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội
Lợi ích kinh tế trong việc CTLLĐ cũng giống như với đặc điểm thương mại trong quan hệ lao động nêu trên. Hoạt động nào tạo ra của cải vật chất cho con người đều mang lợi ích kinh tế. Còn ý nghĩa đối với xã hội, hoạt động CTLLĐ thực sự góp phần không nhỏ trong việc giảm tải gánh nặng cho xã hội về vấn đề việc làm. Cho thuê lại lao động có thể coi là giải pháp lao động quan trọng giúp thúc đẩy sự phát triển của thị trường lao động, giúp phân loại và khai thác đúng các điểm mạnh, yếu của người lao động, phù hợp với yêu cầu của các đơn vị cần nguồn lao động. Vừa đảm bảo đời sống cho người lao động, vừa góp phần giải quyết việc làm và vừa thúc đẩy sự phát triển của kinh tế – xã hội.
Như vậy, CTLLĐ là sự tổng hòa các yếu tố kinh tế và xã hội. Nó không chỉ liên quan đến vấn đề việc làm, hạn chế thất nghiệp, đảm bảo đời sống cho NLĐ… mà còn liên quan đến nguồn đầu tư nhân lực, thu nhập, thu hút đầu tư, tăng trưởng và phát triển doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế xã hội.[2]
Thứ hai, khác với chủ thể của quan hệ lao động thông thường, chủ thể của quan hệ CTLLĐ gồm ba chủ thể với những mối quan hệ khác nhau.
– Quan hệ pháp luật giữa bên CTLĐ và NLĐ
Bên CTLĐ là người trực tiếp tuyển dụng và ký HĐLĐ với NLĐ. Bên CTLĐ cũng chịu trách nhiệm trả lương và đảm bảo các quyền lợi của NLĐ theo quy định của pháp luật. Vì vậy, quan hệ pháp luật giữa bên CTLĐ và NLĐ là quan hệ pháp luật lao động. Trong đó, bên cho thuê lao dộng là NSDLD và lao động được cho thuê lại là NLĐ. Pháp luật nhiều quốc gia coi hoạt động CTLĐ là một ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Vì vậy, ngoài các điều kiện chung của NSDLĐ thì bên CTLĐ còn phải đáp ứng thêm các điều kiện riêng của bên CTLĐ.
– Quan hệ pháp luật giữa bên CTLĐ với bên thuê lại lao động
Về thực chất, quan hệ này là quan hệ pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh thương mại được hình thành nhằm thỏa mãn nhu cầu về sản xuất, dịch vụ, lợi nhuận thông qua hợp đồng CTLLĐ. Trong khi điều kiện đặt ra đối với bên CTLĐ khá khắt khe thi bên thuê lại lao động chỉ cần đáp ứng các điểu kiện chung theo pháp luật về kinh doanh thương mại. Hợp đồng CTLLĐ là căn cứ thể hiện sự ràng buộc quyền lợi và nghĩa vụ giữa bên CTLĐ và bên thuê lại lao động. Ngoài quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên trong hợp đồng, hợp đồng CTLLĐ còn liên quan đến quyền lợi của bên thử ba là NLĐ cho thuê lại.
– Quan hệ giữa bên thuê lại lao động và NLĐ được thuê lại
Thực tế pháp luật các quốc gia cũng như pháp luật Việt Nam đều không quy định cần có một hợp đồng riêng giữa bên thuê lại lao động và NLĐ mà quan hệ của hai chủ thể này dựa trên hai hợp đồng: HĐLĐ và hợp đồng CTLLĐ. Vì vậy nội dung hai hợp đồng này cần thống nhất với nhau.
Quan hệ pháp luật giữa bên thuê lại lao động và NLĐ được thuê lại sẽ chấm dứt trong các trường hợp: hợp đồng CTLLĐ giữa bên CTLĐ và bên thuê lại lao động chẩm dứt: thời hạn CTLLĐ theo hợp đồng CTLLĐ đã hết hạn; NLĐ được thuê lại bị bên thuê lại lao động trả lại bên cho thuê khi không đáp ứng yêu cầu đã thỏa thuận hoặc vi pham kỹ luật lao động; bên thuê lại lao động chấm dứt hoạt động; NLĐ được thuê lại chết….
Thứ ba, CTLLĐ là hoạt động có điều kiện áp dụng đối với một số ngành nghề và đổi tượng nhất đinh.
Hoạt động CTLLĐ là hoạt động kinh doanh mua bán sức lao động, là hàng hóa đặc thù và khác biệt với hàng hóa khác. Nó không chỉ ảnh hưởng đến việc bảo đảm quyền con người, mà còn tác động đến tăng trưởng kinh tế, chính sách việc làm và an ninh, trật tự xã hội của quốc gia. Do đó, pháp luật hầu hết các nước đều quy định CTLLĐ là một ngành nghề kinh doanh có điều kiện.
Chỉ khi người/bên CTLLĐ đáp ứng được các điều kiện về năng lực chủ thể theo quy định của pháp luật thì mới được hoạt động chính thức kinh doanh CTLLĐ. Ngoài điều kiện về năng lực của bên CTLLĐ, pháp luật còn quy định điều kiện về ngành nghề, công việc được hoạt động CTLLĐ để các bên tham gia quan hệ CTLLĐ phải tuân thủ.[3]
1.2. Pháp luật cho thuê lại lao động
1.2.1. Nguyên tắc của pháp luật điều chỉnh hoạt động cho thuê lại lao động
Pháp luật phải sử dụng những cách thức phù hợp để điều chỉnh quan hệ CTLLĐ một cách hiệu quả theo đúng định hượng quản lý của nhà nước. Vì lý do đó, khi điều chỉnh quan hệ này, pháp luật cần phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
– Bảo đảm quyền kinh doanh hoạt động CTLLĐ.
– Bảo vệ quyền cơ bản của NLĐ tại nơi làm việc.
– Không phân biệt đối xử về điều kiện làm việc giữa NLĐ thuê lại và NLĐ chính thức của người/bên thuê lại lao động.
– Xác định trách nhiệm giữa người/bên CTLLĐ và người/bên thuê lại lao động đối với NLĐ.
[1] Luận văn thạc sĩ Luật học: Pháp luật lao động Việt Nam về cho thuê lại lao động – Thực trạng và giải pháp/Ngô Hương Giang; TS. Đỗ Năng Khánh hướng dẫn Tr.12.
[2] Luận văn thạc sĩ Luật học: Cho thuê lại lao động theo pháp luật lao động Việt Nam/Phạm Thị Hải Dịu; TS. Nguyễn Hiền Phương hướng dẫn Tr.14
[3] Luận án tiến sĩ Luật học: Pháp luật về cho thuê lại lao động ở Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn/ Mai Đức Thiện; Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Xuân Thu, TS. Đỗ Ngân Bình Tr.59
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 100.000 VNĐ (.docx)