THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 25 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0006.
- Pháp luật áp dụng: Luật Doanh nghiệp năm 2020.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2024] Pháp luật tài chính doanh nghiệp thế giới về huy động vốn và liên hệ áp dụng vào Việt Nam 2 phap luat tai chinh doanh nghiep the gioi ve huy dong von va lien he viet nam 2](https://tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2024/02/phap-luat-tai-chinh-doanh-nghiep-the-gioi-ve-huy-dong-von-va-lien-he-viet-nam-2.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP | 2 |
| 1.1. Khái quát chung về huy động vốn của doanh nghiệp | 2 |
| 1.1.1. Khái niệm huy động vốn của doanh nghiệp | 2 |
| 1.1.2. Vai trò huy động vốn của doanh nghiệp | 2 |
| 1.2. Các quy định pháp luật về hình thức huy động vốn của doanh nghiệp | 3 |
| 1.2.1. Quy định pháp luật về huy động vốn của doanh nghiệp | 3 |
| 1.2.2. Quản lý của nhà nước đối với hình thức huy động vốn của doanh nghiệp | 5 |
| 1.2.3. Quy định của nhà nước đối với xử lý vi phạm | 7 |
| CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÌNH THỨC HUY ĐỘNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP MỸ SO VỚI VIỆT NAM | 8 |
| 2.1. So sánh các hình thức huy động vốn giữa doanh nghiệp Mỹ và Việt Nam | 8 |
| 2.2. Đánh giá ưu nhược điểm các hình thức huy động vốn của doanh nghiệp tại Việt Nam so với Mỹ | 14 |
| 2.2.1. Ưu điểm | 14 |
| 2.2.2. Nhược điểm | 15 |
| CHƯƠNG 3: BÀI HỌC CHO VIỆT NAM TỪ PHÁP LUẬT HUY ĐỘNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP CỦA MỸ | 17 |
| 3.1. Nâng cao sự ổn định của hệ thống pháp luật huy động vốn của doanh nghiệp | 17 |
| 3.2. Đa dạng hóa cấu trúc vốn | 18 |
| 3.3. Phát triển thị trường trái phiếu | 18 |
| KẾT LUẬN | 20 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 21 |
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay trong môi trường kinh doanh, sự cạnh tranh diễn ra gay gắt khắp các ngành nghề của nền kinh tế, thì vốn là một trong những nhân tố được các doanh nghiệp quan tâm hàng đầu. Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần nắm giữ một số vốn nhất định, số vốn này thể hiện giá trị toàn bộ tài sản và các nguồn lực của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, các phương thức của mọi doanh nghiệp khi huy động vốn rất đa dạng hóa. Tùy theo sự phát triển của thị trường tài chính ở một số quốc gia, cũng tùy theo cách thức kinh doanh của loại hình doanh nghiệp và các quy mô đặc điểm hoạt động kinh doanh mà mỗi doanh nghiệp có cách thức, phương thức tạo vốn và huy động vốn khác nhau.
Tóm lại vốn có vai trò rất quan trọng trong việc thành lập, hoạt động và phát triển doanh nghiệp. Chính vì vậy, việc đánh giá, phân tích hiệu quả sử dụng vốn là rất cần thiết, góp phần giúp các nhà quản trị doanh nghiệp có thể hoạch định chiến lược phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh, tiết kiệm chi phí, thu hút vốn đầu tư và gia tăng lợi nhuận cho công ty. Có thể khẳng định hiệu quả sử dụng vốn phản ánh một cách rõ nét nhất hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp.
Vì vậy, vìệc sử dụng các hình thức huy động vốn sao cho phù hợp có ý nghĩa rất quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp. Xuất phát từ thực tiễn về huy động ở Việt Nam, Nhóm chúng mình với đề tài: “Pháp luật tài chính doanh nghiệp thế giới về huy động vốn và liên hệ áp dụng vào Việt Nam” tập trung phân tích sự điều chỉnh của pháp luật về các hình thức huy động vốn mà các doanh nghiệp trên thế giới đã áp dụng hiệu quả, qua đó rút ra bài học để nâng cao khả năng huy động vốn của các doanh nghiệp tại Việt Nam.
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. Khái quát chung về huy động vốn của doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm huy động vốn của doanh nghiệp
Huy động vốn là một quá trình quan trọng trong kinh doanh và đầu tư. Nó đề cập đến việc tìm kiếm các nguồn tài nguyên tài chính, tài sản hoặc tiền để sử dụng trong các hoạt động kinh doanh, đầu tư, hoặc để trả các khoản nợ. Huy động vốn giúp các doanh nghiệp phát triển, mở rộng hoạt động và đáp ứng các nhu cầu tài chính.
Huy động vốn là hoạt động tạo lập nguồn vốn cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp dưới nhiều hình thức khác nhau như tín dụng, phát hành cổ phiếu, trái phiếu, …
1.1.2. Vai trò huy động vốn của doanh nghiệp
Thứ nhất, huy động vốn nhằm bổ sung nguồn vốn việc đầu tư và kinh doanh của doanh nghiệp
Hầu hết các doanh nghiệp ngày nay đều sử dụng vốn huy động để đầu tư, kinh doanh, sau thời gian khẳng định năng lực và uy tín. Vì không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ vốn và sẵn vốn cố định cho những hoạt động kinh doanh. Vì thế vốn huy động là vô cùng cần thiết và nó quyết định nhiều đến việc mở rộng phạm vi hoạt động của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp nào có chiến lược đúng đắn, có uy tín và huy động được nguồn vốn lớn thì khả năng cạnh tranh cũng như mở rộng quy mô phát triển sẽ rất nhanh và ngược lại.
Thứ hai, huy động vốn để doanh nghiệp tăng thêm năng lực cạnh tranh qua đó thể hiện tiềm lực kinh tế, uy tín của doanh nghiệp. Rõ ràng để huy động được vốn từ bên ngoài, doanh nghiệp phải có uy tín, có đủ niềm tin với đối tượng doanh nghiệp muốn huy động vốn.
Do đó, huy động vốn nhanh, nhiều và kịp thời phản ánh đúng tiềm lực và uy tín của doanh nghiệp. Và khi có vốn huy động thì ngược lại nó lại giúp doanh nghiệp đầu tư sản xuất, kinh doanh, mở rộng thị trường và nâng cao được uy tín.
1.2. Các quy định pháp luật về hình thức huy động vốn của doanh nghiệp
1.2.1. Quy định pháp luật về huy động vốn của doanh nghiệp
– Huy động vốn điều lệ của doanh nghiệp:
Theo quy định tại khoản 34 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020: “Vốn điều lệ là tổng giá trị tài sản do các thành viên công ty, chủ sở hữu công ty đã góp hoặc cam kết góp khi thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh; là tổng mệnh giá cổ phần đã bán hoặc được đăng ký mua khi thành lập công ty cổ phần.”
Vốn điều lệ xuất hiện ngay từ thời điểm doanh nghiệp được thành lập, là cơ sở để để xác định phạm vi chịu trách nhiệm tài sản của công ty đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty. Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp có thể tăng vốn điều lệ để mở rộng quy mô của công ty. Mỗi loại hình doanh nghiệp sẽ có những cách thức riêng để huy động vốn điều lệ theo quy định của pháp luật như sau:
Thứ nhất, đối với công ty hợp danh, Luật Doanh nghiệp năm 2020 chưa có quy định cụ thể về việc tăng vốn điều lệ của công ty hợp danh. Tuy nhiên từ những quy định về tổ chức và thành viên của của công ty hợp danh, ta có thể hiểu công ty hợp danh có thể huy động vốn điều lệ bằng cách các thành viên của công ty góp thêm vốn hoặc công ty tiếp nhận thêm các thành viên góp vốn mới.
Thứ hai, tương tự như công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên cũng huy động vốn điều lệ bằng cách tăng vốn góp của thành viên và tiếp nhận thêm vốn góp từ các thành viên mới. Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, việc tăng vốn điều lệ được thực hiện thông qua việc chủ sở hữu của công ty góp thêm vốn và huy động thêm vốn từ người khác. Tuy nhiên, khi công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên huy động thêm vốn từ người khác sẽ phải thực hiện thủ tục thay đổi loại hình doanh nghiệp thành công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên hoặc công ty cổ phần.
Thứ ba, công ty cổ phần có sự khác biệt đối với các loại hình doanh nghiệp khác khi thực hiện huy động vốn điều lệ. Ngay từ thời điểm thành lập, vốn điều lệ của công ty cổ phần đã được thể hiện dưới dạng cổ phần và được ghi nhận bằng cổ phiếu, những người sở hữu cổ phần của công ty được gọi là cổ đông. Công ty cổ phần có quyền chào bán các cổ phần của công ty cho các cổ đông hiện hữu và người khác để huy động thêm vốn điều lệ. Đối với các công ty đại chúng, công ty niêm yết, việc huy động vốn điều lệ được diễn ra trên sàn chứng khoán thông qua việc phát hành cổ phiếu và thu hút các nhà đầu tư với quy mô rộng hơn cũng như số vốn điều lệ tăng thêm sẽ lớn hơn. Các hoạt động bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán buộc phải tuân theo các quy định của pháp luật về chứng khoán.
Như vậy có thể thấy có sự khác biệt giữa các loại hình doanh nghiệp khi thực hiện huy động vốn điều lệ. Sự khác biệt rõ rệt nhất thể hiện ở cách thức huy động vốn của công ty cổ phần, với cách thức huy động vốn thông qua việc chào bán cổ phần, phát hành cổ phiếu, công ty cổ phần có thể huy động được số vốn điều lệ lớn hơn nhiều lần so với công ty trách nhiệm hữu hạn hay công ty hợp danh.
– Huy động vốn đầu tư doanh nghiệp
Bên cạnh vốn điều lệ doanh nghiệp, trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp sẽ phải huy động thêm các nguồn vốn khác để thực hiện các dự án, kế hoạch kinh doanh của công ty. Luật Đầu tư quy định: “Vốn đầu tư là tiền và tài sản khác để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh”. Số vốn đầu tư có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn vốn điều lệ của doanh nghiệp. Theo quy định của pháp luật doanh nghiệp hiện nay, doanh nghiệp có thể huy động vốn để thực hiện hoạt động đầu tư, kinh doanh bằng các phương thức sau:
Thứ nhất, doanh nghiệp huy động vốn bằng việc phát hành trái phiếu.
Luật Doanh nghiệp 2014 quy định chỉ có công ty cổ phần được quyền phát hành trái phiếu. Tuy nhiên, kể từ ngày 01/01/2021 khi Luật Doanh nghiệp 2020 có hiệu lực, công ty trách nhiệm hữu hạn cũng sẽ có quyền phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Trái phiếu được hiểu là một chứng từ ghi nợ của doanh nghiệp. Doanh nghiệp sẽ có nghĩa vụ trả lãi cho những nhà đầu tư sở hữu trái phiếu. Khác với cổ phiếu, nhà đầu tư sở hữu trái phiếu sẽ không trở thành cổ đông hay thành viên của công ty. Số tiền huy động được từ việc bán trái phiếu sẽ không được tính vào phần vốn điều lệ của doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ sử dụng số vốn huy động được từ trái phiếu để thực hiện các hoạt động đầu tư kinh doanh.
Thứ hai, huy động vốn bằng phát hành cổ phiếu
Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật Chứng khoán 2019 quy định: “Cổ phiếu được hiểu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành”. Điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng được quy định tại Điều 15 Luật Chứng khoán 2019.
Thứ ba, vốn góp ban đầu
Vốn góp ban đầu là phần vốn hình thành do các chủ sở hữu đóng góp khi thành lập doanh nghiệp. Hình thức sở hữu sẽ quyết định tính chất và hình thức tạo vốn của bản thân doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp Nhà nuớc, vốn góp ban đầu chính là vốn đầu tư của Nhà nước. Đối với doanh nghiệp tư nhân, vốn góp ban đầu là vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân do chủ doanh nghiệp tự đăng ký. Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh, phần vốn góp ban đầu là tổng giá trị phần vốn góp các thành viên cam kết góp vào công ty. Đối với công ty cổ phần, vốn góp ban đầu là tổng giá trị mệnh giá cổ phần các loại đã được đăng ký mua và được ghi trong Điều lệ công ty.
1.2.2. Quản lý của nhà nước đối với hình thức huy động vốn của doanh nghiệp
Thứ nhất, về quản lý trái phiếu
Theo quy định tại khoản 3 Điều 34 Nghị định số 153/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế, thì doanh nghiệp phát hành trái phiếu có trách nhiệm: “Thanh toán đầy đủ, đúng hạn lãi, gốc trái phiếu khi đến hạn và thực hiện các quyền kèm theo (nếu có) cho chủ sở hữu trái phiếu theo điều kiện, điều khoản của trái phiếu”.
Ngoài ra, nghị định số 08/2023/NĐ-CP bổ sung quy định: Đối với trái phiếu chào bán tại thị trường trong nước, trường hợp doanh nghiệp phát hành không thể thanh toán đầy đủ, đúng hạn nợ gốc, lãi trái phiếu bằng đồng Việt Nam theo phương án phát hành đã công bố cho nhà đầu tư theo quy định tại Điều 17 Nghị định này, doanh nghiệp có thể đàm phán với người sở hữu trái phiếu để thanh toán gốc, lãi trái phiếu đến hạn bằng tài sản khác theo quy định của pháp luật.
Điểm b khoản 3 Điều 3 Nghị định số 65/2022/NĐ-CP ngày 16/09/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 153/2020/NĐ-CP quy định: Doanh nghiệp không được thay đổi kỳ hạn của trái phiếu đã phát hành.
Thứ hai, về quản lý cổ phiếu
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 121 Luật Doanh nghiệp 2020 “Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó”
Phát hành cổ phiếu là hoạt động nhằm huy động vốn điều lệ chỉ có với công ty cổ phần. Các cổ đông (những người nắm giữ cổ phiếu trong công ty cổ phần) sẽ chuyển nhượng, mua bán cổ phần (phần vốn được chia ra) của công ty và những người khi mua cổ phần sẽ được chứng nhận, xác minh quyền sở hữu đối với phần cổ phần mà mình có được bằng cổ phiếu.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 100.000 VNĐ (.docx)