THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật – Đại học Huế
- Định dạng: WORD
- Số trang: 21 trang (cả bìa)
- Năm: 2021 / Mã số: B0214.
- Pháp luật áp dụng: Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009 và 2019.
- Từ khóa: Chuyển quyền sử dụng/ Quyền sở hữu công nghiệp/ Quyền sử dụng
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2021] Pháp luật về chuyển quyền sử dụng đối tượng quyền sở hữu công nghiệp và giải pháp 3 B0214 phap luat ve chuyen quyen su dung doi tuong quyen so huu cong nghiep va giai phap 3](https://tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2024/02/B0214-phap-luat-ve-chuyen-quyen-su-dung-doi-tuong-quyen-so-huu-cong-nghiep-va-giai-phap-3.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐỐI TƯỢNG QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP | 2 |
| 1.1. Khái niệm | 2 |
| 1.2. Tổng quan về hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp | 2 |
| 1.2.1. Chủ thể hợp đồng | 4 |
| 1.2.2. Các loại hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp | 4 |
| 1.2.3. Đặc điểm hợp đồng chuyển quyền sử dụng quyền sở hữu công nghiệp | 5 |
| 1.2.5. Hạn chế việc chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp | 8 |
| CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐỐI VỚI ĐỐI TƯỢNG SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP | 9 |
| 2.1. Ưu điểm từ thực tiễn áp dụng pháp luật về chuyển quyền sử dụng đối với đối tượng sở hữu công nghiệp | 9 |
| 2.2. Một số hạn chế khi áp dụng pháp luật chuyển quyền sử dụng quyền sở hữu công nghiệp | 13 |
| CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐỐI VỚI ĐỐI TƯỢNG SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP | 16 |
| KẾT LUẬN | 18 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 19 |
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay không chỉ Việt Nam mà hầu như các quốc gia trên thế giới đang tiến lên theo xu hướng hội nhập nền kinh tế thông qua công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chính vì vậy quyền sở hữu trí tuệ ngày càng có vai trò quan trọng. Đặc biệt, quyền sở hữu công nghiệp (SHCN) thể hiện vai trò vượt trội, góp phần chuyển dịch cơ cấu tài sản trong doanh nghiệp, từ tài sản hữu hình (nhà xưởng, máy móc, phương tiện) sang các loại tài sản vô hình (nhãn hiệu, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp,…) trong các sản phẩm, hàng hóa góp phần tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp. Các chủ thể ngày càng chú trọng đến thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền SHCN nói riêng[1]. Và phương thức chuyển quyền sử dụng (QSD) quyền SHCN đã trở thành lựa chọn hàng đầu cho nhiều doanh nghiệp.
Chuyển QSD quyền SHCN tại Việt Nam đang ngày càng được áp dụng rộng rãi. Phương thức này đáp ứng nhu cầu khai thác các đối tượng của quyền SHCN từ các chủ sở hữu, doanh nghiệp và các nhà đầu tư kinh doanh. Chuyển QSD quyền SHCN giúp khai thác hợp lý lợi ích kinh tế từ các đối tượng quyền SHCN, kích thích sự sáng tạo và phát triển của khoa học và công nghệ. Trong những năm qua, hoạt động chuyển QSD quyền SHCN diễn ra có xu hướng gia tăng. Tuy nhiên vẫn còn chưa được quan tâm đúng mức. Trong nhiều trường hợp, hoạt động chuyển QSD quyền SHCN gặp phải vướng mắc trong quy định pháp luật hoặc trong thực tiễn phát sinh bất cập mà chưa có quy định điều chỉnh dẫn đến hiệu quả chưa cao. Chính vì vậy nghiên cứu đề tài “Pháp luật về chuyển quyền sử dụng đối tượng quyền sở hữu công nghiệp và giải pháp” là rất quan trọng và cần thiết để từ những phân tích đánh giá về pháp luật, thực trạng áp dụng pháp luật sẽ đưa ra được những giải pháp phù hợp giúp cho pháp luật nước ta ngày càng hoàn thiện trong vấn đề về chuyển quyền sử dụng đối tượng quyền sở hữu công nghiệp.
CHƯƠNG 1: PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐỐI TƯỢNG QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
1.1. Khái niệm
Theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ 2005 ( sửa đổi bổ sung 2009) thì đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý. Và quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh[2].
Trong các quyền sở hữu công nghiệp bao gồm quyền sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp và quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp. Chủ sở hữu đối tượng SHCN có toàn quyền sử dụng, ngăn cấm người khác sử dụng và định đoạt đối tượng SHCN. Trong đó, quyền sử dụng của chủ sở hữu là quan trọng nhất, cho phép chủ sở hữu có quyền khai thác các lợi ích vật chất của đối tượng SHCN. Theo đó, chủ sở hữu dùng quyền của mình hoặc chuyển quyền sử dụng đối tượng SHCN.
Vì vậy chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp là việc chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp thuộc phạm vi quyền sử dụng của mình
1.2. Tổng quan về hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp
Li – xăng (license) bắt nguồn từ tiếng Latin “Licentia”, tức là sự cho phép, sự ủy quyền và hiện đang được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngôn ngữ thông dụng trên thế giới như Anh, Mỹ, Đức[3]. Li – xăng được hiểu là hành vi pháp lý giao kết hợp đồng, trên cơ sở đó chủ sở hữu các đối tượng SHCN hoặc các bí quyết kĩ thuật cho phép chủ thể khác được sử dụng quyền SHCN là sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp hoặc nhãn hiệu.
Bản chất của hợp đồng li – xăng là sự thỏa thuận bằng văn bản, trên cơ sở đó, tổ chức, cá nhân – gọi là bên chuyển giao quyền – cho phép tổ chức, cá nhân khác – gọi là bên nhận chuyển giao quyền – được sử dụng trong phạm vi lãnh thổ và trong một thời hạn nhất định các sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa hoặc các bí quyết kĩ thuật đang thuộc quyền sở hữu hoặc sử dụng của bên giao. Văn bản tại Việt Nam về SHCN cũng công nhận khái niệm li – xăng vì hợp đồng chuyển QSD đối tượng SHCN cũng được gọi là hợp đồng li xăng SHCN, theo Điều 47.2 của Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN[4].
Do tính vô hình của đối tượng SHCN nên việc chuyển QSD gặp rất nhiều vướng mắc và gây khó khăn cho các cơ quan nhà nước trong quá trình quản lý các chủ thể. Mặc khác, hoạt động chuyển QSD đối tượng quyền SHCN dễ xảy ra tranh chấp, vì vậy hình thức này phải được lập thành văn bản, tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc hơn.
Chuyển quyền sử dụng quyền sở hữu công nghiệp là thuật ngữ chỉ việc chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp. Để hiểu rõ hơn về khái niệm hợp đồng chuyển quyền sử dụng quyền sở hữu công nghiệp thì cần hiểu quyền sử dụng quyền sở hữu công nghiệp hay quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp là gì.
Đối với nhãn hiệu, quyền sử dụng nhãn hiệu là việc chủ thể quyền thực hiện các hành vi như gắn nhãn hiệu được bảo hộ lên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh… hay lưu thông, chào bán, quảng cáo để bán hàng hóa mang nhãn hiệu được bảo hộ.
Đối với sáng chế, quyền sử dụng sáng chế là quyền cho phép chủ sở hữu khai thác đối tượng SHCN thông qua các hành vi như sản xuất sản phẩmđược bảo hộ, áp dụng quy trình được bảo hộ
[1] ThS. Đỗ Thị Quỳnh Trang – ThS. Dương Thị Cẩm Nhung, Bàn về chuyển quyền sử dụng quyền sở hữu công nghiệp ở Việt Nam, Tạp chí Công thương điện tử, https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/ban-ve-chuyen-quyen-su-dung-quyen-so-huu-cong-nghiep-o-viet-nam-78809.htm, truy cập ngày 20/11/2021.
[2] Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009.
[3] ThS. Đỗ Thị Quỳnh Trang – ThS. Dương Thị Cẩm Nhung, Bàn về chuyển quyền sử dụng quyền sở hữu công nghiệp ở Việt Nam, Tạp chí Công thương điện tử, https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/ban-ve-chuyen-quyen-su-dung-quyen-so-huu-cong-nghiep-o-viet-nam-78809.htm, truy cập ngày 20/11/2021.
[4] Trần Khánh Ly (2015), “Chuyển giao quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, trang 32.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
Pháp luật về chuyển quyền sử dụng đối tượng quyền sở hữu công nghiệp và giải pháp
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 100.000 VNĐ (.docx)