THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Kiểm sát Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 19 trang (cả bìa)
- Năm: 2022 / Mã số: B0130.
- Pháp luật áp dụng: Luật Doanh nghiệp năm 2020
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2022] Pháp luật về công ty hợp danh theo Luật Doanh nghiệp năm 2020 2 B0130 phap luat viet nam ve cong ty hop danh theo luat doanh nghiep nam 2020 2](https://tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2024/02/B0130-phap-luat-viet-nam-ve-cong-ty-hop-danh-theo-luat-doanh-nghiep-nam-2020-2.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| PHẦN MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TY HỢP DANH | 2 |
| 1.1. Khái niệm và đặc điểm của công ty hợp danh | 2 |
| 1.1.1. Khái niệm | 2 |
| 1.1.2. Đặc điểm | 3 |
| 1.2. Những nội dung chủ yếu của chế định công ty hợp danh tại Việt Nam | 4 |
| CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY HỢP DANH | 5 |
| 2.1. Về thành viên và thành lập công ty hợp danh | 5 |
| 2.1.1. Thành viên hợp danh trong công ty hợp danh | 5 |
| 2.1.2. Thành viên góp vốn trong công ty hợp danh | 6 |
| 2.1.3. Về thành lập công ty hợp danh | 7 |
| 2.2. Quy định về vốn trong công ty hợp danh | 8 |
| 2.2.1. Góp vốn | 8 |
| 2.2.2. Huy động vốn | 8 |
| 2.2.3. Chuyển nhượng vốn, rút vốn | 9 |
| 2.3. Về quản lý công ty hợp danh | 9 |
| 2.3.1. Cơ cấu quản lý | 9 |
| 2.3.2. Quản lý và điều hành kinh doanh | 10 |
| 2.4. Về chấm dứt công ty hợp danh | 10 |
| CHƯƠNG III: BẤT CẬP VỀ CHẾ ĐỊNH CÔNG TY HỢP DANH THEO LUẬT DOANH NGHIỆP VIỆT NAM VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN | 12 |
| KẾT LUẬN | 14 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 15 |
LỜI MỞ ĐẦU
CTHD là một trong các hình thức công ty xuất hiện sớm nhất và đáp ứng rất tốt các đòi hỏi của thị trường. Nghiên cứu cho thấy, “tại các quốc gia Châu Á, nơi đặt nặng mối quan hệ thân thiết giữa các thành viên trong kinh doanh thì CTHD vẫn rất phát triển”.[1] Kể từ khi CTHD xuất hiện đến nay, Nhà nước ta đã liên tục cập nhật và đổi mới, chú trọng đến việc xây dựng, hoàn thiện một hệ thống pháp luật để điều chỉnh hoạt động của loại hình công ty này.
Một thập kỉ kể từ khi chủ trương đổi mới quản lý theo hướng xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần của Nhà nước được cụ thể hoá, CTHD mới lần đầu được tiên được quy định trong LDN 1999. Vài năm sau đó, những quy định về CTHD đã bộc lộ những nhược điểm khi nhà đầu tư không mặn mà với loại hình doanh nghiệp này. Trong gần 10 năm thực hiện LDN năm 2005, số lượng CTHD vẫn chỉ dừng lại ở con số vài chục, điều đó chứng tỏ loại hình công ty này vẫn còn chưa hấp dẫn các nhà đầu tư kinh doanh, đến LDN năm 2014 vẫn quy định hình thức CTHD gồm 11 Điều (từ Điều 172 đến Điều 182) và chưa khắc phục được những đặc điểm cố hữu của việc quy định loại hình công ty này. Trên cơ sở kế thừa tinh thần về mô hình CTHD trong LDN cũ, và hiện nay là LDN năm 2020 đã có điểm mới tiên bộ về quy chế pháp lý thành viên công ty, cơ cấu tổ chức quản lý, các vấn đề tài chính được quy định rõ ràng hơn.
Qua từng văn bản, nhiều nội dung đã được sửa đổi, bổ sung cho toàn diện và đầy đủ hơn. Tuy vậy, bên cạnh những tiến bộ đã đạt được thì LDN hiện hành quy định về CTHD vẫn còn tồn tại những nội dung chưa thật sự phù hợp. Để có thể tìm hiểu và nghiên cứu sâu hơn về CTHD và hệ thống pháp luật về CTHD theo LDN của nước ta từ trước đến nay, sinh viên đã chọn đề “Pháp luật Việt Nam về công ty hợp danh theo Luật Doanh nghiệp năm 2020”.
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TY HỢP DANH
1.1. Khái niệm và đặc điểm của công ty hợp danh
1.1.1. Khái niệm
CTHD là một trong các loại hình công ty ra đời sớm nhất trong lịch sử nhân loại. Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy những quy định về sự hợp danh theo nghĩa rộng trong các bộ luật thời cổ đại, như Bộ luật Hammurabi của Babylon cổ đại ra đời vào khoảng thập niên 1760 trước Công nguyên[2].
Ban đầu, loại hình CTHD chỉ là những liên kết giản đơn của các thương nhân đã quen biết nhau từ trước và họ dựa trên yếu tố nhân thân để tạo nên sự tin tưởng, từ đó cùng nhau tiến hành các hoạt động kinh doanh. Đây là đặc điểm của loại hình công ty đối nhân, tức là loại hình công ty mà trong đó yếu tố con người quan trọng hơn yếu tố vốn. Sau này, do nhu cầu về vốn, loại hình công ty họp danh đã tiếp nhận thêm các thành viên góp vốn bên cạnh các thành viên hợp danh; tuy nhiên, sự góp vốn này cũng chỉ có vai trò thứ yếu.
Khái niệm CTHD ở mỗi quốc gia là không thống nhất do quan niệm khác nhau về tư cách pháp nhân của CTHD. Tại Việt Nam, trong thời kỳ Pháp thuộc, CTHD đã từng xuất hiện dưới các hình thức như “công ty đồng danh hay hội hợp danh”[3]. Sau khi đất nước tiến hành đổi mới toàn diện thì “các hình thức kinh doanh như nhóm kinh doanh, tổ hợp tác… đều có thể coi là các dạng của CTHD ngày nay”[4]. Phải kể từ LDN 1999, loại hình CTHD mới được chính thức quy định sơ sài với bốn Điều luật. Tiếp tục được kế thừa và phát triển từ LDN 2005 và LDN 2014, mới đây nhất LDN 2020 đã cụ thể hoá định nghĩa CTHD dưới dạng liệt kê các đặc cơ bản của nó. Cụ thể: (i) Phải có ít nhất 02 thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh). Ngoài các thành viên hợp danh, công ty có thể có thêm thành viên góp vốn; (ii) Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty; (iii) Thành viên góp vốn là tổ chức, cá nhân và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty[5].
Có thể thấy, pháp luật Việt Nam ghi nhận CTHD gồm hai loại là: CTHD thông thường và CTHD hữu hạn nhưng chỉ gộp chung lại dưới tên gọi duy nhất là “CTHD”. Như vậy CTHD là loại hình doanh nghiệp trong đó có từ hai người cùng sở hữu công ty, cùng hợp tác với nhau dưới một tên chung, cùng nhau chia sẻ lợi nhuận cũng như thua lỗ của công ty bằng toàn bộ tài sản của mình.
1.1.2. Đặc điểm
CTHD theo pháp luật Việt Nam có những đặc điểm như sau: Mang bản chất đối nhân như các CTHD trên thế giới.
Về tư cách thành viên, trong CTHD có thành viên chịu trách nhiệm vô hạn được gọi là thành viên hợp danh, thành viên chịu trách nhiệm hữu hạn gọi là thành viên góp vốn. Mỗi loại thành viên đều có quy chế pháp lý riêng.
Về số lượng thành viên, CTHD Việt Nam quy định số thành viên hợp danh tối thiểu là hai (giống với hầu hết các quốc gia).
CTHD Việt Nam cũng phải hoạt động dưới tên gọi riêng, mang ý nghĩa đặc trưng của loại hình công ty đối nhân.
CTHD không có quyền phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.
Đặc điểm cuối cùng là CTHD Việt Nam có tư cách pháp nhân, là chủ thể độc lập trước pháp luật, tuy nhiên không có sự tách bạch giữa tài sản của công ty với tài sản của thành viên hợp danh, nên không độc lập trong việc chịu trách về các khoản nợ của công ty. Đặc điểm này dựa trên sự tiến bộ của LDN. Tước đây, khi CTHD lần đầu tiên được ghi nhận trong LDN năm 1999 thì CTHD không có tư cách pháp nhân. Nhưng theo LDN năm 2005 và hiện nay là LDN năm 2020 thì CTHD có tư cách pháp nhân[6].
1.2. Những nội dung chủ yếu của chế định công ty hợp danh tại Việt Nam
Pháp luật về CTD điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến tổ chức công ty phát sinh trực tiếp từ quá trình thành lập; xác lập cơ cáu tổ chức quản lý nội bộ và cấu trúc vốn trong công ty, tổ chức lại công ty, chấm dứt sự tồn tại của công ty. Như vậy, chế định về CTHD là tập trung các quy định về những vấn đề liên quan đến thành lập, tổ chức, thành viên, quản lý, vận hành và chấm dứt CTHD…
[1] Nguyễn Vinh Hưng (2013), “Công ty hợp danh theo luật doanh nghiệp 2005 – một số bật cập và kiến nghị”, Dân chủ và pháp luật, số 7 (256), tr.35.
[2] Ralph Warner và Denis Clifford (2006), Form a Partnership (7th edition), Nolo Press, tr.8.
[3] Lê Tài Triển, Nguyễn Vạng Thọ, Nguyễn Tân (1973), Luật Thương Mại Việt Nam dẫn giải, Nxb. Kim lai ấn quán, Quyển II, tr. 763.
[4] Nguyễn Vinh Hưng (2015), “Phân biệt công ty hợp danh và công ty hợp vốn đơn giản theo luật doanh nghiệp năm 2014”, Nghề luật, số 06/2015, tr. 9.
[5] Khoản 1 Điều 177 luật doanh nghiệp 2020.
[6] Lục Việt Dũng (2015), So sánh pháp luật Việt Nam và pháp luật Nhật Bản về công ty hợp danh, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật – ĐHQG, Hà Nội.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
[Tiểu luận 2022] Pháp luật Việt Nam về công ty hợp danh theo Luật Doanh nghiệp năm 2020
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 50.000 VNĐ (.docx)