THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 39 trang (Không bao gồm bìa, Mục lục)
- Năm: 2025 / Mã số: B0810.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2025] Pháp luật về giải thể doanh nghiệp 3 phap luat ve giai the doanh nghiep 3](https://tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2025/02/phap-luat-ve-giai-the-doanh-nghiep-3.png)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP | 1 |
| 1.1. Khái quát về giải thể doanh nghiệp | 1 |
| 1.1.1. Khái niệm giải thể doanh nghiệp | 1 |
| 1.1.2. Đặc điểm, bản chất pháp lý của giải thể doanh nghiệp | 1 |
| 1.1.3. Các lý do giải thể doanh nghiệp | 2 |
| 1.1.4. Điều kiện giải thể doanh nghiệp | 2 |
| 1.1.5. Phân biệt giải thể doanh nghiệp với phá sản doanh nghiệp | 3 |
| 1.1.6. Phân biệt giải thể doanh nghiệp với tạm ngừng kinh doanh | 4 |
| 1.2. Khái quát pháp luật về giải thể doanh nghiệp ở Việt Nam | 5 |
| 1.2.1. Hình thức pháp luật về giải thể doanh nghiệp ở Việt Nam | 5 |
| 1.2.2. Nội dung cơ bản của pháp luật về giải thể doanh nghiệp ở Việt Nam | 6 |
| CHƯƠNG II: THỰC TIỄN PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM | 8 |
| 2.1. Các quy định pháp luật về giải thể doanh nghiệp ở Việt Nam | 8 |
| 2.1.1. Quy định về các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia vào việc giải thể doanh nghiệp | 8 |
| 2.1.2. Quy định về trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp ở Việt Nam | 10 |
| 2.1.3. Quy định về các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp trong quá trình giải thể doanh nghiệp (Các quyền và nghĩa vụ thuộc Hậu quả pháp lý của giải thể doanh nghiệp) | 14 |
| 2.1.4. Quy định về các quyền, nghĩa vụ của thành viên, cổ đông trong quá trình giải thể doanh nghiệp | 16 |
| 2.1.5. Quy định về quyền lợi của người lao động trong quá trình giải thể doanh nghiệp | 18 |
| 2.2. Thực tiễn giải thể doanh nghiệp tại Việt Nam | 19 |
| 2.2.1. Doanh nghiệp giải thể thành công: Auto Investment Group | 20 |
| 2.2.2. Giải thể doanh nghiệp không thành công: Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Trà Tân | 21 |
| 2.3. Đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về giải thể doanh nghiệp ở Việt Nam | 23 |
| 2.3.1. Những ưu điểm và thành công của hoạt động giải thể doanh nghiệp ở Việt Nam | 23 |
| 2.3.2. Những nhược điểm, vướng mắc, bất cập trong hoạt động giải thể doanh nghiệp ở Việt Nam | 24 |
| CHƯƠNG III: ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP | 30 |
| 3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về giải thể doanh nghiệp | 30 |
| 3.2. Những giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải thể doanh nghiệp ở Việt Nam | 33 |
| 3.2.1. Giải pháp sáng lập | 33 |
| 3.2.1.1. Sửa đổi, bổ sung quy định về điều kiện, trường hợp thủ tục giải thể doanh nghiệp | 33 |
| 3.2.1.2. Bổ sung quy định về xử lý vi phạm về hồ sơ giải thể | 33 |
| 3.2.2. Giải pháp thi hành | 33 |
| 3.2.2.1. Tuyên truyền và tập hợp hóa các quy định pháp luật | 34 |
| 3.2.2.2. Đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức | 34 |
| 3.2.3. Giải pháp tư pháp: Thực hiện các thủ tục tố tụng rút gọn để giải quyết các yêu cầu tuyên giao dịch vô hiệu liên quan đến giải thể và phá sản doanh nghiệp | 35 |
| 3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về giải thể doanh nghiệp ở Việt Nam | 35 |
| 3.3.1. Quy định cụ thể về trường hợp thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quyết định của Toà án | 35 |
| 3.3.2. Tăng cường rà soát doanh nghiệp thuộc diện phải thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp | 36 |
| 3.3.3. Xây dựng hệ thống quản lý thông tin đồng bộ | 36 |
| 3.3.4. Một số giải pháp cải cách hành chính khác | 37 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 39 |
TẢI VỀ: Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu! |
LỜI MỞ ĐẦU
1.1.1. Khái niệm giải thể doanh nghiệp
Giải thể doanh nghiệp là quá trình chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp trong điều kiện doanh nghiệp có khả năng thanh toán hoặc bảo đảm thanh toán các nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp. Giải thể là thủ tục để doanh nghiệp rút khỏi thị trường một cách hợp pháp
1.1.2. Đặc điểm, bản chất pháp lý của giải thể doanh nghiệp
Về bản chất, giải thể doanh nghiệp là một quá trình với những hoạt động nhằm chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp, để doanh nghiệp rút khỏi thị trường. Đây là quá trình diễn ra với các hoạt động: hoạt động kinh tế (thanh lí tài sản, thanh toán nợ) và hoạt động pháp lí (thủ tục hành chính để “xoá tên” doanh nghiệp tại cơ quan đăng kí kinh doanh).
Về lí do giải thể, lí do giải thể khá đa dạng, có thể xuất phát từ vi phạm pháp luật của doanh nghiệp hoặc ý chí tự nguyện của chủ doanh nghiệp.
Về điều kiện giải thể, doanh nghiệp chỉ thực hiện thủ tục giải thể để rút khỏi thị trường khi bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ, thực hiện xong các nghĩa vụ tài sản và không trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án hoặc Trọng tài.
Về chủ thể quyết định việc giải thể, chủ sở hữu doanh nghiệp là người quyết định việc giải thể doanh nghiệp. Cơ quan đăng kí kinh doanh không có thẩm quyền đồng ý hay phản đối việc giải thể mà chỉ xem xét tính hợp lệ của hồ sơ giải thể và khi không có khiếu nại về việc giải thể thì sẽ quyết định cập nhật tình trạng “đã giải thể” của doanh nghiệp trên Cổng thông tin quốc gia về đăng kí doanh nghiệp (trước đây gọi là hồ sơ giải thể và xoá tên doanh nghiệp trong sổ đăng kí kinh doanh)
Đối với các trường hợp giải thể bắt buộc, chủ sở hữu doanh doanh nghiệp buộc phải quyết định giải thể doanh nghiệp trên cơ sở quyết định đình chỉ hoạt động, thu hồi Giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp của cơ quan có thẩm quyền hay quyết định của Toà án. Trong trường hợp này, mặc dù không trực tiếp ra quyết định giải thể nhưng về bản chất, có thể coi cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ thể quyết định giải thể doanh nghiệp, vì chủ sở hữu doanh nghiệp ra quyết định giải thể mà không xuất phát từ tự do ý chỉ của mình
1.1.3. Các lý do giải thể doanh nghiệp
Giải thể tự nguyện là trường hợp chấm dứt hoạt động của – thanh toán hết các doanh nghiệp theo ý chí của chủ sở hữu doanh nghiệp. Giải thể tự nguyện diễn ra khi kết thúc thời hạn hoạt động đã ghi trong điều lệ công ty không có quyết định gia hạn hoặc khi chủ sở hữu nghiệp không muốn tiếp tục kinh doanh.
Giải thể bắt buộc là trường hợp chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp theo ý chí của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi có sự vi phạm pháp luật của doanh nghiệp trong quá trình thành lập và hoạt động của doanh nghiệp đó.
Giải thể bắt buộc khi công ti không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu mà không có giải pháp khắc phục trong thời gian luật định hoặc khi doanh nghiệp có hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình thành lập, hoạt động và bị xử lí đình chỉ hoạt động, thu hồi Giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp.
1.1.4. Điều kiện giải thể doanh nghiệp
Doanh nghiệp được giải thể khi đáp ứng điều kiện: Doanh nghiệp bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác và doanh nghiệp không trong quá trình giải quyết tranh chấp
Về lí thuyết, có thể chấp nhận những cách thức “bảo đảm thanh toán hết nợ và nghĩa vụ tài sản khác” như sau: (i) Các khoản nợ đã được thanh toán dứt điểm, thể hiện qua hồ sơ giải thể; (ii) Một số khoản nợ được tổ chức, cá nhân khác, kể cả tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu doanh nghiệp liên quan, cam kết thanh toán nợ sau khi doanh nghiệp giải thể. Trường hợp này cần lưu ý đến các quy định về chuyển giao nghĩa vụ trong Bộ luật Dân sự; (iii) Đối với giải thể chi nhánh, doanh nghiệp có chi nhánh giải thể có nghĩa vụ thực hiện trả nợ, vì thực chất các khoản nợ được tạo ra từ hoạt động của chi nhánh là khoản nợ của doanh nghiệp.
1.1.5. Phân biệt giải thể doanh nghiệp với phá sản doanh nghiệp
Thứ nhất, lí do giải thể không đồng nhất đối với các loại hình doanh nghiệp và rộng hơn nhiều so với lí do phá sản. Theo quy định của pháp luật hiện hành về giải thể, khi rơi vào những trường hợp pháp luật quy định đối với loại hình doanh nghiệp đó có thể tự giải thể hoặc bị giải thể. Các trường hợp giải thể đối với mỗi một loại hình doanh nghiệp được pháp luật quy định không giống nhau mà tuỳ thuộc vào vị trí, vai trò cũng như ảnh hưởng của doanh nghiệp đó trong nền kinh tế. Tuy nhiên, có thể khái quát lại rằng doanh nghiệp có thể tự chấm dứt hoạt động của mình hoặc bị bắt buộc giải thể khi: Mục tiêu đề ra không thể đạt được hoặc đã hoàn thành xong mục tiêu đó hoặc bị thu hồi giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp. Trong khi đó, việc phá sản chỉ có thể do một nguyên nhân duy nhất gây ra, đó là mất khả năng thanh toán nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu.
Thứ hai, phá sản khác với giải thể ở bản chất của hai thủ tục pháp lí cũng như cơ quan có thẩm quyền thực hiện các thủ tục đó. Giải thể là một thủ tục mang tính chất hành chính, là giải pháp mang tính chất tổ chức, người chủ doanh nghiệp tự mình quyết định hoặc do cơ quan có thẩm quyền cho phép thành lập quyết định, còn thủ tục phá sản lại là một thủ tục tư pháp, là hoạt động do một cơ quan nhà nước duy nhất là Toà án có thẩm quyền tiến hành theo những quy định chặt chẽ của pháp luật phá sản.
Thứ ba, thủ tục giải thể và thủ tục phá sản khác nhau về hậu quả. Giải thể bao giờ cũng dẫn đến chấm dứt hoạt động và xoá tên doanh nghiệp, hợp tác xã, trong khi đó, đối với phá sản thì không phải bao giờ cũng đem đến kết quả như vậy. Khi thủ tục phá sản được mở thì không phải bao giờ cũng dẫn đến kết cục là doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản theo quyết định của Toà án.
Thứ tư, thái độ của Nhà nước đối với chủ sở hữu hay người quản lí, điều hành cơ sở sản xuất, kinh doanh trong hai trường hợp trên cũng có sự phân biệt. Chẳng hạn, pháp luật nhiều nước quy định cấm chủ sở hữu bị phá sản không được hành nghề trong một thời gian nhất định. Còn trong trường hợp giải thể, vấn đề hạn chế quyền tự do kinh doanh này không được đặt ra.
[… Vui lòng tải về để xem đầy đủ nội dung tài liệu này]
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ: Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu! |