THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật – Đại học Huế
- Định dạng: WORD
- Số trang: 21 trang (cả bìa)
- Năm: 2021 / Mã số: B0202.
- Pháp luật áp dụng: Luật Đầu tư năm 2020, Luật đầu tư theo phương thức đối tác công tư năm 2020.
- Từ khóa: Hợp đồng BOT/ Hợp đồng xây dựng/ Hợp đồng xây dựng kinh doanh chuyển giao
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2021] Pháp luật về hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (BOT), qua thực tiễn áp dụng tại tỉnh Thừa Thiên Huế 2 B0202 phap luat ve hop dong xay dung kinh doanh chuyen giao 2](https://bunny-wp-pullzone-evwxkqab4s.b-cdn.net/wp-content/uploads/2024/02/B0202-phap-luat-ve-hop-dong-xay-dung-kinh-doanh-chuyen-giao-2.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG - KINH DOANH - CHUYỂN GIAO (BOT) | 3 |
| 1.1. Khái niệm hợp đồng BOT | 3 |
| 1.2. Đặc điểm của hợp đồng BOT | 3 |
| 1.3. Vai trò của hợp đồng BOT | 5 |
| 1.4. Ưu và nhược điểm của hợp đồng BOT | 6 |
| 1.5. Những quy định pháp luật về hợp đồng BOT | 7 |
| CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG - KINH DOANH-CHUYỂN GIAO (BOT) TẠI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | 10 |
| 2.1. Một số kết quả, thành tựu đạt được trong pháp luật về hợp đồng BOT qua thực tiễn áp dụng tại tỉnh Thừa Thiên Huế | 10 |
| 2.2. Những hạn chế, vướng mắt trong pháp luật về hợp đồng BOT qua thực tiễn áp dụng tại tỉnh Thừa Thiên Huế | 11 |
| CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG - KINH DOANH - CHUYỂN GIAO (BOT) QUA THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | 14 |
| 3.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về hợp đồng BOT trong thời gian tới | 14 |
| 3.2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng BOT qua thực tiễn tại tỉnh Thừa Thiên Huế | 14 |
| KẾT LUẬN | 17 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 18 |
LỜI MỞ ĐẦU
Hòa vào dòng chảy toàn cầu hóa của nền kinh tế thế giới hiện nay, Đảng và Nhà nước ta trong những năm qua đã có những chủ trương, chính sách phát triển, đẩy nhanh quá trình hội nhập nền kinh tế quốc tế. Để tạo dựng một tiền đề vững chắc sẵn sàng bước vào “sân chơi” quốc tế thì việc xây dựng, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, vật chất trên tất cả các lĩnh vực như giao thông vận tải, thủy điện, y tế – giáo dục.. .là một quá trình mang tính lâu dài và là điều kiện tiên quyết của mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam.
Việc triển khai thực hiện các dự án cơ sở hạ tầng, công trình trên thực tế hiện nay là một vấn đề hết sức phức tạp và luôn được dành nhiều sự quan tâm của các cơ quan Nhà nước, bởi để xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng cần đến một nguồn kinh phí khổng lồ mà với nguồn ngân sách Nhà nước hiện nay thì vẫn không đủ để đáp ứng, đồng thời trình độ, kỹ thuật công nghệ, khả năng vận hành, khai thác, sử dụng hệ thống vẫn đang rất còn hạn chế. Chính vì thế, để giải quyết những khó khăn trên Nhà nước đã xây dựng hệ thống văn bản pháp luật quy định về hợp đồng Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao (BOT) được ghi nhận trong Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư 2020, Luật Đầu tư năm 2020 và một số văn bản khác có liên quan như Nghị định, Thông tư.
Với hình thức hợp đồng này, Nhà nước có thể huy động tất cả mọi nguồn lực từ các thành phần kinh tế khác nhau, từ doanh nghiệp trong nước lẫn nước ngoài, tiếp thu, tận dụng được những kinh nghiệm, khả năng quản lý cũng như những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong khu vực và thế giới, bên cạnh đó còn làm giảm sức ép lên nguồn ngân sách Nhà nước. Thực tiễn triển khai hợp đồng BOT trong những năm vừa qua đã cho thấy những dấu hiệu tích cực như số lượng hợp đồng BOT được giao kết và thực hiện trên các lĩnh vực giao thông, điện, nước.ngày một phát triển không ngừng, tuy nhiên vẫn tồn tại những hạn chế, sai phạm trong hoạt động này như công tác thanh tra, giám sát của cơ quan chức năng còn hạn chế, chất lượng công trình không được đảm bảo.
Xuất phát từ thực tiễn trên, em xin chọn đề tài “Pháp luật về hợp đồng Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao (BOT), qua thực tiễn áp dụng tại tỉnh Thừa Thiên Huế” để hoàn thành bài tiểu luận kết thúc học phần của mình.
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG – KINH DOANH – CHUYỂN GIAO (BOT)
1.1. Khái niệm hợp đồng BOT
Hợp đồng Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao (gọi là hợp đồng BOT) có tên tiếng Anh tương ứng là Build – Operate – Transfer, là một trong các loại hợp đồng theo hình thức đối tác công tư (PPP). Hợp đồng BOT được ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để xây dựng công trình hạ tầng, sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án được quyền kinh doanh công trình trong một thời hạn nhất định, hết thời hạn thì nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án sẽ chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho nhà nước Việt Nam.
1.2. Đặc điểm của hợp đồng BOT
* Hợp đồng BOT mang các đặc điểm chung của hợp đồng thương mại
Mặc dù hợp đồng BOT là một dạng đặc biệt của hợp đồng thương mại, tồn tại độc lập trong hệ thống pháp luật hợp đồng, nhưng hợp đồng BOT vẫn mang các đặc điểm thông thường của hợp đồng thương mại mà trước hết nó là sự thể hiện tự do ý chí của các bên khi tham gia giao kết hợp đồng, cụ thể:
Thứ nhất, về chủ thể của hợp đồng BOT giống như các chủ thể của hợp đồng thương mại khác, bao gồm các cá nhân, pháp nhân tham gia vào hợp đồng. Nó có thể là các thương nhân, các doanh nghiệp, công ty trong nước, nước ngoài; trong trường hợp chủ thể là các thương nhân, doanh nghiệp, công ty nước ngoài thì hợp đồng sẽ coi là có yếu tố nước ngoài. Đồng thời, Nhà nước đóng vai trò là chủ thể đặc biệt trong hợp đồng thương mại.
Thứ hai, về mục đích của hợp đồng BOT có những nét tương đồng so với mục đích của các hợp đồng thương mại khác. Mục đích của cả hợp đồng BOT và hợp đồng thương mại là tìm kiếm lợi nhuận và đạt được các lợi ích kinh tế khác. Bên cạnh đó, trên thực tế có những doanh nghiệp, công ty ký kết hợp đồng không chỉ hướng đến mục đích chính là lợi nhuận mà còn phải song song tiến hành các hoạt động mở rộng sản xuất, chuyển giao công nghệ…
Thứ ba, về mục đích huy động vốn đối với các hợp đồng thương mại khác thì sẽ hướng đến các khu vực là tư nhân, còn hợp đồng BOT việc huy động vốn để nhằm xây dựng một cơ sở hạ tầng vốn thuộc trách nhiệm của Nhà nước, và đồng thời Nhà nước tham gia hợp đồng với tư cách là một chủ thể đặc biệt, vừa là chủ thể kinh tế, vừa là chủ thể công quyền.
Thứ tư, về nguyên tắc cơ bản trong thực hiện hợp đồng BOT bao gồm: nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật, nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận trong hoạt động thương mại.theo đúng nghĩa những nguyên tắc của các hợp đồng thương mại.
* Hợp đồng BOT mang những nét đặc thù riêng
Với tư cách là một hợp đồng tồn tại độc lập trong hệ thống pháp luật, hợp đồng BOT vẫn có những nét khác biệt, cụ thể:
Thứ nhất, về đối tượng của hợp đồng BOT chủ yếu là các bất động sản như công trình, nhà máy, cầu cống…và những cơ sở hạ tầng này thường do Nhà nước có trách nhiệm phải thực hiện.
Thứ hai, về chủ thể của hợp đồng BOT luôn bao gồm một bên là cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và bên còn lại là các nhà đầu tư. Nhà nước là chủ thể đặc biệt tham gia quan hệ pháp luật này không chỉ với tư cách chủ thể kinh tế mà còn với tư cách là chủ thể công quyền, có vai trò quản lý một số hoạt động đầu tư theo dạng hình thức này. Đây là nét khác biệt về mặt chủ thể, bởi không phải hợp đồng thương mại nào Nhà nước cũng tham gia với vai trò là chủ thể của hợp đồng.
Thứ ba, về nguồn vốn tài trợ để thực hiện hợp đồng, ở các hợp đồng thương mại đối với các hợp đồng vay tài sản khác thường phải dựa vào cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh. Đối với hợp đồng BOT thì ngược lại, cụ thể bên cho vay sẽ không dựa vào tài sản hiện hữu của doanh nghiệp, mà sẽ xem xét dựa trên nguồn thu của dự án khi đưa vào vận hành để hoàn trả số vốn vay, đây chính là sự khác biệt trong các nguồn đảm bảo, không dựa vào các phương thức truyền thống như cầm cố, thế chấp hay bảo lãnh.
Thứ tư, ở giai đoạn thương lượng và ký kết hợp đồng BOT thường rất phức tạp và chặt chẽ so với các hợp đồng thương mại khác. Tính chặt chẽ và phức tạp được thể hiện qua việc lựa chọn nhà đầu tư rất khắt khe về quy trình công nghệ lẫn yêu cầu về nguồn vốn tài chính để thực hiện dự án BOT, bên cạnh đó sau khi có quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn, nhà đầu tư phải thành lập một doanh nghiệp mới hoặc sử dụng doanh nghiệp đang tồn tại để thực hiện dự án BOT với mục đích duy nhất để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án PPP[1].
[1] Khoản 1 Điều 44 Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư 2020.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 100.000 VNĐ (.docx)