THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 23 trang (cả bìa)
- Năm: 2022 / Mã số: B0132.
- Pháp luật áp dụng: Luật Thương mại năm 2005, Luật Hàng hải năm 2015
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2022] Pháp luật về Logistics - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện 3 B0132 phap luat ve logistics thuc trang va giai phap hoan thien 3](https://bunny-wp-pullzone-evwxkqab4s.b-cdn.net/wp-content/uploads/2024/02/B0132-phap-luat-ve-logistics-thuc-trang-va-giai-phap-hoan-thien-3.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | 3 |
| PHẦN MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DỊCH VỤ LOGISTICS VÀ PHÁP LUẬT VỀ LOGISTICS | 2 |
| 1.1. Những vấn đề lý luận chung về dịch vụ logistics | 2 |
| 1.1.1. Khái niệm của dịch vụ logistics | 2 |
| 1.1.2. Đặc điểm của dịch vụ logistics | 3 |
| 1.2. Một số vấn đề lý luận chung về pháp luật về logistics | 5 |
| 1.2.1. Khái niệm pháp luật về logistics | 5 |
| 1.2.2. Đặc điểm pháp luật về dịch vụ logistics | 6 |
| 1.2.3. Vai trò của pháp luật về dịch vụ logistics | 6 |
| CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ DỊCH VỤ LOGISTICS | 8 |
| 2.1. Quy định pháp luật Việt Nam về hoạt động Logistics | 8 |
| 2.1.1. Quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics | 8 |
| 2.1.2. Quy định về chủ thể của dịch vụ logistics | 8 |
| 2.1.3. Quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ dịch vụ logistics | 9 |
| 2.1.4. Quy định về trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics | 9 |
| 2.1.5. Quy định về quản lý Nhà nước về hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics | 11 |
| 2.2. Thực trạng thi hành pháp luật về dịch vụ Logistics | 11 |
| 2.2.1. Những kết quả đạt được | 11 |
| 2.2.2. Một số bất cấp trong pháp luật điều chỉnh về dịch vụ Logistics | 12 |
| CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ LOGISTICS | 15 |
| 3.1. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về dịch vụ logistics | 15 |
| 3.1.1. Hoàn thiện quy định về điều kiện kinh doanh đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics | 15 |
| 3.1.2. Hoàn thiện quy định về quyền và nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics | 15 |
| 3.1.3. Trường hợp miễn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics | 16 |
| 3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về dịch vụ logistics | 16 |
| KẾT LUẬN | 18 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 19 |
LỜI MỞ ĐẦU
Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, sự gia tăng của hoạt động xuất khẩu và đầu tư, dịch vụ Logistics tại Việt Nam đang có những bước phát triển mạnh mẽ và khẳng định được vai trò quan trọng của mình trong việc là cầu nối cho sự phát triển, mở rộng giao lưu thương mại không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn vươn ra tầm quốc tế. Bên cạnh việc xây dựng và hoàn thiện thể chế chính sách, chuẩn hóa quy trình dịch vụ, nâng cấp cơ sở hạ tầng và chất lượng nguồn nhân lực thì đòi hỏi Nhà nước phải xây dựng hành lang pháp lý đủ mạnh mẽ sẽ tạo nên cơ sở vững chắc cho sự phát triển đó của dịch vụ Logistics tại Việt Nam.
Pháp luật Việt Nam về dịch vụ Logistics đã và đang được xác định là một vấn đề cần thiết phải quan tâm nghiên cứu và phân tích nhằm mục đích nâng cao hơn hiệu quả, vai trò của hoạt động kinh doanh dịch vụ Logistics với nền kinh tế. Do đó, trong phạm vi môn học, tác giả lựa chọn thực hiện đề tài: “Pháp luật về Logistics – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện” làm bài tiểu luận của mình. Tác giả phân tích một số lý luận cơ bản, làm rõ thực tiễn pháp luật Việt Nam về Logistics để tìm ra những hạn chế trong quy định của pháp luật, từ đó đưa ra những đề xuất phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong việc điều chỉnh lĩnh vực này vừa tương thích với pháp luật Quốc tế vừa phù hợp với điều kiện Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DỊCH VỤ LOGISTICS VÀ PHÁP LUẬT VỀ LOGISTICS
1.1. Những vấn đề lý luận chung về dịch vụ logistics
1.1.1. Khái niệm của dịch vụ logistics
Logistics có nguồn gốc từ hai chữ “Logis” và “stic”, có nghĩa là tính toán một cách “hợp lý”. Như vậy nội dung của Logistics bao gồm việc hướng dẫn mọi người cách thức thực hiện công việc sao cho hợp lý nhất. Từ “Logistics” được giải nghĩa bằng tiếng anh trong cuốn “Oxford Advances Learners Dictionary of Current English, A.S Hornby. Fifth Edition, Oxford University Press, 1995” nhu sau: “Logistics có nghĩa là việc tổ chức cung ứng và dịch vụ đối với một hoạt động phức hợp nào đó”[1].
Logistic gồm có 3 mảng chính là kho bãi, giao nhận và vận chuyển. Công việc cụ thể là quản lý hàng tồn, giao hàng và nhận tiền theo đơn đặt hàng, phân phối hàng đến các đại lý… Công việc đòi hỏi phải lập kế hoạch tốt, có sự linh hoạt, nhạy bén về kinh doanh, điều phối tốt. Ngoài ra cần có một số kỹ năng tổng quát như: ngoại ngữ, vi tính, kỹ năng tính toán và khả năng giao tiếp tốt. Mặt khác, Logistics bao gồm hai cấp độ: (i) Cấp độ thứ nhất bao trùm các vấn đề lấy nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, dịch vụ ở đâu, như thế nào và vận chuyển đi đâu; (ii) Cấp độ thứ hai quan tâm đến việc làm thế nào để đưa các yếu tố đầu vào từ điểm đầu đến điểm cuối dây chuyền cung ứng[2].
Trên thế giới: Các công ty giao nhận kho vận trên thế giới nói chung, và ở các nước ASEAN nói riêng, ngày càng nhận thấy rằng chi phí của các dịch vụ lập kế hoạch, sắp xếp và chuẩn bị mọi mặt cho hàng hoá để sẵn sàng chuyên chở và chi phí vận tải đơn thuần có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại với nhau trên nhiều khía cạnh, theo một trình tự nhất định. Nếu biết tận dụng công nghệ tin học để tổ chức tốt và chặt chẽ các khâu này, thì giá thành của hàng hoá sẽ giảm đáng kể, do vậy năng lực cạnh tranh được nâng cao. Vì vậy, Logistics không phải là một dịch vụ đơn lẻ (do đó thuật ngữ này bao giờ cũng ở dạng số nhiều: Logistics).
Logistics luôn luôn là một chuỗi các dịch vụ về giao nhận hàng hoá như: làm các thủ tục giấy tờ, tổ chức vận tải, bao bì đóng gói ghi nhãn hiệu, lưu kho lưu bãi, phân phát hàng hóa (nguyên liệu hoặc thành phẩm) tới các địa chỉ khác nhau, chuẩn bị cho hàng hoá luôn luôn sẵn sàng trong trạng thái có yêu cầu của khách hàng là có thể đáp ứng, bất kỳ lúc nào. Chính vì vậy, nói tới Logistics bao giờ người ta cũng nói tới một chuỗi hệ thống dịch vụ. Với hệ thống chuỗi dịch vụ này, người cung cấp dịch vụ Logistics sẽ giúp khách hàng có thể tiết kiệm được chi phí của đầu vào trong các khâu dịch chuyển, lưu kho, lưu bãi và phân phát hàng hoá (nguyên liệu, bán thành phẩm, hoặc thành phẩm)…
Dịch vụ Logistics trên thế giới rất phát triển và đóng một vai trò quan trọng trong nền dịch vụ, thu hút một lượng lớn lực lượng lao động, gia tăng lợi nhuận cho các nhà cung cấp và thúc đẩy các ngành khác phát triển.
Tại Việt Nam: Luật Thương mại năm 2005 lần đầu tiên khái niệm về dịch vụ logistics được pháp điển hóa. Luật quy định“Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hạng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”[3].
1.1.2. Đặc điểm của dịch vụ logistics
Logistics là sự phối hợp đồng bộ các hoạt động, là dịch vụ hỗ trợ các hoạt động, là sự phát triển cao, hoàn thiện của dịch vụ giao nhận vận tải và là cơ sở phát triển hoàn thiện của dịch vụ vận tải đa phương thức. Cụ thể:
Thứ nhất, Logistics có thể coi là tổng hợp các hoạt động của doanh nghiệp trên các khía cạnh chính, gồm: Logistics sinh tồn, Logistics hoạt động và Logistics hệ thống.
Logistics sinh tồn là hoạt động đáp ứng các nhu cầu cơ bản, thiết yếu. Cụ thể là người kinh doanh dịch vụ Logistics luôn có thể biết một cách khái quát nhất, chủ doanh nghiệp cần gì, cần như thế nào, khi nào cần và cần ở đâu; để từ đó có thể chuẩn bị trước một số hoạt động ban đầu.
Logistics hoạt động là hoạt động mở rộng các nhu cầu cơ bản bằng cách liên kết các hệ thống sản xuất các sản phẩm. Logistics liên kết các nguyên liệu thô mà doanh nghiệp cần trong quá trình sản xuất, các công cụ sử dụng nguyên liệu thô đó trong quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm có được trong quá trình sản xuất.
Logistics hệ thống liên kết các nguồn lực cần có trong việc giữ cho hệ thống hoạt động.
Thứ hai, Logistics có chức năng hỗ trợ các hoạt động của doanh nghiệp
Đặc điểm này thể hiện ở chỗ nó tồn tại chỉ để cung cấp sự hỗ trợ cho các bộ phận khác nhau của doanh nghiệp. Logistics hỗ trợ quá trình sản xuất (Logistics hoạt động), hỗ trợ cho sản phẩm sau khi được di chuyển quyền sở hữu từ người sản xuất sang người tiêu dùng (Logistics hệ thống), sản xuất được Logistics hỗ trợ thông qua quản lý sự di chuyển và lưu trữ nguyên vật liệu đi vào và thành phẩm đi ra trong doanh nghiệp.
Thứ ba, Logistics là một dịch vụ rất đa dạng
Logistics thể hiện tư cách dịch vụ của mình thông qua việc thực hiện các hoạt động nhằm đáp ứng nhiều yêu cầu khác nhau của doang nghiệp. Chính vì vậy, hoạt động của Logistics đối với từng loại yêu cầu cụ thể khác nhau sẽ khác nhau, hoàn toàn không theo một khuôn khổ nhất định nào.
Thứ tư, Logistics là sự phát triển cao, hoàn chỉnh của dịch vụ vận tải giao nhận, vận tải và giao nhận gắn liền trong một hệ thống mang tính đồng bộ cao
Qua các giai đoạn phát triển, Logistics đã làm cho khái niệm vận tải giao nhận truyền thống ngày càng đa dạng và phong phú thêm. Từ chỗ thay mặt khách hàng để thực hiện các công việc đơn lẻ như: thuê tàu, lưu cước, chuẩn bị hàng, đóng gói, làm thủ tục thông quan… cho tới cung cấp trọn gói một dịch vụ vận chuyển từ kho người bán đến kho người mua đúng nơi đúng lúc để phục vụ nhu cầu khách hàng. Từ chỗ đóng vai trò là người được uỷ thác trở thành một bên chính, nhân danh chính mình, trong các hoạt động vận tải giao nhận với khách hàng, chịu trách nhiệm trước các nguồn luật điều chỉnh đối với những hành vi của mình.
Thứ năm, Logistics là sự phát triển hoàn thiện dịch vụ vận tải đa phương thức
Những năm 60 – 70 của thế kỷ XX, sự xuất hiện container trong ngành vận tải đã đảm bảo an toàn và độ tin cậy trong vận chuyển hàng hoá, là tiền đề và cơ sở cho sự ra đời và phát triển vận tải đa phương thức.
1.2. Một số vấn đề lý luận chung về pháp luật về logistics
Thuật ngữ logistics đã xuất hiện trên thế giới từ rất lâu, nhưng đến những năm 1990 logistics mới phát triển trong lĩnh vực kinh tế và trở thành ngành dịch vụ toàn cầu. Tùy theo sự phát triển của các quốc gia trên thế giới về logistics mà pháp luật điều chỉnh có sự thu hẹp hoặc mở rộng, bởi lẽ pháp luật điều chỉnh hoạt động của thị trường dịch vụ logistics có tác động trực tiếp đến khả năng của một quốc gia trong sử dụng mạng lưới logistics toàn cầu, thông qua đó kết nối với thị trường thế giới.
Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng dịch vụ logistics thường rất phức tạp, do đó đòi hỏi tất cả những người liên quan đến dịch vụ logistics đều phải nắm vững pháp luật. Sự hiểu biết pháp luật sẽ giúp các nhà kinh doanh thu được lợi nhuận tối đa và giảm thiểu rủi ro, đồng thời giúp những người hoạt động trong lĩnh vực logistics thực hiện công việc chuyên môn và quản lý tài chính ở mức độ tối ưu.
Ở Việt Nam, những kiến thức về logistics và pháp luật về hoạt động logistics mới thâm nhập vào Việt Nam trong giai đoạn mở cửa của nền kinh tế, trước hết thông qua các hoạt động của các công ty giao nhận vận tải nước ngoài và những người được đào tạo ở nước ngoài. Hoạt động này phát triển sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Trong những năm gần đây, khi khối ASEAN tăng cường hội nhập, Việt Nam đã tham gia lộ trình hội nhập ngành logistics trong ASEAN và đạt được những kết quả bước đầu. Tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XI, LTM 2005 được thông qua, lần đầu tiên dịch vụ logistics được thừa nhận tại Việt Nam và là cơ sở quan trọng cho doanh nghiệp nghiên cứu triển khai dịch vụ này…
[1] Oxford Advances Learners Dictionary of Current English, A.S Hornby. Fifth Edition, Oxford University Press, 1995.
[2] Đại Học Luật Hà Nội (2020), Giáo trình luật thương mại Việt Nam, tập 2, NXB Tư Pháp, trang 128.
[3] Điều 233 Luật Thương mại năm 2005.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
[Tiểu luận 2022] Pháp luật về Logistics – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 100.000 VNĐ (.docx)