THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 33 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0062.
- Pháp luật áp dụng: Bộ luật Lao động năm 2019.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2024] Quyền của lao động nữ theo pháp luật Việt Nam 3 phap luat viet nam ve quyen cua lao dong nu 3](https://tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2024/02/phap-luat-viet-nam-ve-quyen-cua-lao-dong-nu-3.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| 1. Tính cấp thiết của đề tài | 1 |
| 2. Ý nghĩa và mục đích nghiên cứu | 2 |
| 3. Phương pháp nghiên cứu khoa học | 2 |
| CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA LAO ĐỘNG NỮ | 3 |
| 1.1. Một số khái niệm liên quan đến lao động nữ | 3 |
| 1.2. Đặc điểm và vai trò của lao động nữ | 4 |
| 1.3. Quyền của lao động nữ | 6 |
| 1.4. Nội dung pháp luật về quyền của lao động nữ | 7 |
| 1.4.1. Quyền được bình đẳng về cơ hội làm việc, thu nhập | 7 |
| 1.4.2. Quyền làm mẹ | 8 |
| 1.4.3. Quyền nhân thân | 8 |
| 1.5. Bảo vệ quyền của lao động nữ | 9 |
| 1.5.1. Các điều kiện bảo vệ quyền của lao động nữ | 9 |
| 1.5.2. Các biện pháp cơ bản bảo vệ quyền của lao động nữ | 10 |
| CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN CỦA LAO ĐỘNG NỮ | 12 |
| 2.1. Nội dung các quy định về quyền của lao động nữ và thực tiễn thi hành | 12 |
| 2.1.1. Quyền được bình đẳng về cơ hội làm việc và thu nhập | 12 |
| 2.1.2. Quyền làm mẹ | 13 |
| 2.1.3. Quyền nhân thân | 14 |
| 2.2. Thực trạng bảo vệ quyền của lao động nữ ở Việt Nam | 15 |
| 2.2.1. Các điều kiện bảo vệ quyền của lao động nữ | 15 |
| 2.2.2. Các biện pháp cơ bản bảo vệ quyền của lao động nữ | 16 |
| 2.3. Đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền của lao động nữ | 17 |
| CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN CỦA LAO ĐỘNG NỮ | 19 |
| 3.1. Quan điểm định hướng cơ bản cho việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quyền của lao động nữ | 19 |
| 3.1.1. Pháp luật Việt Nam về quyền của lao động nữ phải phù hợp với chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước nhằm thúc đẩy quyền con người | 19 |
| 3.1.2. Hoàn thiện pháp luật về quyền của lao động nữ đồng bộ với việc hoàn thiện quy định pháp luật khác liên quan | 19 |
| 3.1.3. Hoàn thiện pháp luật về quyền của lao động nữ phải phù hợp với đặc điểm vai trò của lao động nữ, phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội và thúc đẩy quan hệ lao động ổn định, hài hoà | 20 |
| 3.1.4. Hoàn thiện pháp luật về quyền của lao động nữ đảm bảo yêu cầu hội nhập quốc tế | 21 |
| 3.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quyền của lao động nữ và đảm bảo thực thi pháp luật về quyền của lao động nữ | 22 |
| 3.2.1. Sửa đổi, bổ sung một số quy định pháp luật hiện hành về quyền của lao động nữ | 22 |
| 3.2.2. Các giải pháp tổ chức thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quyền của lao động nữ | 24 |
| KẾT LUẬN | 28 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 29 |
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong suốt dòng chảy thời gian của nhân loại, phụ nữ luôn là một phần không thể thiếu đối với gia đình và xã hội. Bằng những phẩm chất, trí tuệ và lao động sáng tạo, phụ nữ không chỉ góp phần tạo ra của cải, vật chất, tinh thần mà còn tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, vì sự tiến bộ của xã hội loài người. Phụ nữ rất đa nhiệm họ vừa là người lao động, là người công dân đồng thời là người mẹ, người thầy đầu tiên trong cuộc đời mỗi con người. Nhằm bảo đảm, bảo vệ, thúc đẩy quyền của phụ nữ trong việc hưởng thụ các quyền cơ bản của con người. Trước hết là bảo đảm cho phụ nữ được sống an toàn, tự do, bình đẳng, phát triển khả năng toàn diện của bản thân, tạo điều kiện tốt nhất để họ phát triển bền vững Việt Nam đã gia nhập và phê chuẩn hai công ước quan trọng là Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (UDHR) năm 1948, Công ước CEDAW năm 1979.
Ở Việt Nam, phụ nữ và nam giới đều bình đẳng trước pháp luật trong mọi đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Lao động nữ là nguồn nhân lực to lớn góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội đất nước trong thời kỳ hội nhập. Ngay từ Hiến pháp năm 1946, Nhà nước đã quan tâm đến quyền lợi của người phụ nữ, rút ngắn khoảng cách phân biệt đối xử, “đàn bà ngang quyền với đàn ông” quy định này tạo tiền đề và cơ sở cho chuyển biến to lớn về vị trí vai trò của phụ nữ trong pháp luật và thực tế xã hội Việt Nam sau này. Hiến pháp năm 2013, công bố: “Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội.Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới”.
Quan niệm sai lệch làm cho lao động nữ trở thành đối tượng dễ bị tổn thương hơn. Với đặc thù này và sự tồn tại của quan niệm “trọng nam khinh nữ” lao động nữ ở Việt Nam vẫn đang trong thế yếu, vẫn gặp nhiều thách thức, bị xâm phạm về quyền và lợi ích. Từ thực trạng trên cho thấy nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về “Quyền của lao động nữ theo pháp luật Việt Nam” nhằm luận giải các vấn đề về quyền của lao động nữ như: quyền bình đẳng về việc làm và thu nhập, quyền nhân thân, quyền làm mẹ cũng như các biện pháp bảo vệ thúc đẩy quyền cho lao động nữ là cần thiết. Từ đó đề xuất việc hoàn thiện và đưa ra các giải pháp, kiến nghị giúp các nhà hoạch định chính sách, các chuyên gia về lao động và các nhà hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ có những biện pháp bảo đảm, bảo vệ thúc đẩy quyền cho lao động nữ ngày càng tốt hơn.
2. Ý nghĩa và mục đích nghiên cứu
Ý nghĩa khoa học: Làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận về quyền của lao động nữ trong việc thúc đẩy bảo đảm, bảo vệ quyền của lao động nữ nói chung và lao động nữ ở Việt Nam nói riêng.
Ý nghĩa thực tiễn: Có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo. Những phương hướng và giải pháp được đề xuất tại tiểu luận này có thể gợi mở cho các cơ quan quản lý, xây dựng pháp luật có những điều chỉnh để xây dựng cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền cho lao động nữ được thực thi tốt hơn.
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quyền của lao động nữ, xác lập các tiêu chí đánh giá thực tiễn việc bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy quyền của lao động nữ ở Việt Nam, từ đó xác định các yêu cầu và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quyền của lao động nữ.
3. Phương pháp nghiên cứu khoa học
Phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác -Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phương pháp duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là những phương pháp luận khoa học được vận dụng nghiên cứu trong toàn bộ các chương của tiểu luận để làm sáng tỏ những vấn đề cần nghiên cứu.
Ngoài ra, sẽ có phương pháp nghiên cứu cụ thể phù hợp với từng lĩnh vực của tiểu luận cũng được sử dụng trong quá trình thực hiện như: phương pháp lịch sử và logic, phỏng vấn và hỏi chuyên gia, phân tích và tổng hợp, trừu tượng hóa và khái quát hóa, đối chiếu, so sánh, xử lý số liệu thống kê, khảo cứu thực tiễn.
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA LAO ĐỘNG NỮ
1.1. Một số khái niệm liên quan đến lao động nữ
Lao động nữ là nhân tố quyết định đối với sự phát triển xã hội loài người. Theo Ăng-ghen thì lao động đã tạo ra chính bản thân con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội. Tại Công ước số 155 Công ước về An toàn lao động, vệ sinh lao động và môi trường làm việc (1981) người lao động bao gồm tất cả những người đang được sử dụng, kể cả công chức. Theo nghĩa rộng người lao động bao gồm tất cả những người thuộc giới lao động trong xã hội; theo nghĩa hẹp người lao động gồm những người làm công cho các doanh nghiệp, cơ quan tổ chức, cá nhân gia đình trên cơ sở hợp đồng lao động. Luật lao động của Việt Nam và hầu hết các nước khác thường sử dụng thuật ngữ “người lao động” để chỉ những đối tượng thuộc phạm vi này. Nếu sử dụng thuật ngữ “người lao động” theo nghĩa rộng thì những đối tượng theo nghĩa hẹp thường được gọi cụ thể là “người làm công” hay “lao động làm công, “lao động hợp đồng”…để phân biệt. Trong phạm vi luật lao động thuật ngữ “người lao động” chủ yếu được sử dụng theo nghĩa hẹp. Giới là khái niệm về mối quan hệ xã hội – văn hóa giữa nam và nữ. Giới là cách để xã hội chia con người thành các phạm trù, các loại và chỉ định cho mỗi loại một kiểu hành vi riêng, những trách nhiệm và quyền lợi riêng.
Hiểu theo Công ước số 111 về phân biệt đối xử việc làm và nghề nghiệp (1958) thì giới tính không mang ý nghĩa phụ nữ hay giới tính sinh học mà được hiểu là đặc điểm vị trí vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội tức là chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt xã hội. Như vậy, lao động nữ được hiểu là người lao động có những đặc điểm riêng biệt so với lao động nam về tâm sinh lý và thể lực, mang những đặc trưng riêng về giới khi tham gia quan hệ lao động.
1.2. Đặc điểm và vai trò của lao động nữ
Lý thuyết về giới và phát triển dựa trên quan niệm rằng sự khác biệt giữa nam và nữ nhất thiết phải được giải thích bằng hai khái niệm tuy đi liền với nhau nhưng tách biệt rõ ràng. Thứ nhất, đó là sự khác biệt về đặc điểm sinh học, còn gọi là giới tính, liên quan chủ yếu đến vai trò sinh sản. Thứ hai, là đặc điểm xã hội, còn gọi là giới, có liên quan đến các yếu tố thể chế chính trị, tôn giáo, văn hóa, kinh tế…Trong hai nhóm đặc điểm này, các yếu tố xã hội có vai trò quyết định đối với bản chất của các tương quan giữa nam và nữ trong gia đình và xã hội.
Về phương diện sinh lý chức năng sinh sản của nam giới hay nữ giới là không thay đổi và không chuyển dịch cho nhau nhưng những đặc điểm về giới có đặc trưng cơ bản như sự dạy dỗ, giáo dục, có tính đa dạng, những nhận thức của quan hệ xã hội giữa nam và nữ có sự biến đổi và thay đổi được từ sự nhận thức, thái độ, hành vi của từng người về giới. Nền kinh tế thị trường tất yếu hình thành thị trường lao động, với các quan hệ lao động ngày càng phức tạp đa dạng tạo nhiều cơ hội tốt cho lao động nữ phát huy được khả năng của mình nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau quyền lợi của lao động nữ trong việc tuyển chọn, trả công, bảo hiểm xã hội…vẫn có sự phân biệt và vi phạm.
Về kinh tế – chính trị:
Trong những năm qua, Việt Nam đạt nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội và ngày càng hội nhập quốc tế sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực. Có được thành công này phải kể đến vai trò của phụ nữ – một trong những nhân tố đóng góp quan trọng, thiết thực. Hiện chiếm 50,2% dân số và 47,3% lực lượng lao động, phụ nữ đang ngày càng khẳng định rõ nét vai trò vị trí của mình khi tham gia vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Trong lĩnh vực chính trị: phụ nữ ngày càng nhận thức đầy đủ và tích cực, chủ động thực hiện quyền công dân, nghĩa vụ đối với đất nước. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ ngày càng được tăng cường và nâng cao về chất lượng, nhiều người được tín nhiệm bầu, bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước. Việc bố trí lãnh đạo nữ trong Quốc hội chiếm gần 40%. Trong đó, Chủ tịch Quốc hội là nữ; chủ nhiệm các cơ quan của Quốc hội là nữ chiếm 22,22%; phó chủ nhiệm các ủy ban là 6,45%; tất cả các ủy ban đều có thành viên là nữ; tỷ lệ nữ đại biểu hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2016-2021 ở cấp tỉnh là 26,54%, cấp huyện là 27,85% và cấp cơ sở là 26,59%. Những kết quả đó đã đưa vị thế phụ nữ Việt Nam tham gia Quốc hội đứng thứ 2 khu vực châu Á – Thái Bình Dương,
Trong lĩnh vực kinh tế: Việt Nam là một trong 20 thị trường doanh nhân nữ phát triển thuận lợi, mạng lưới doanh nghiệp nữ hoạt động hiệu quả nhất ASEAN. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến hết tháng 9/2019, toàn quốc có gần 285,7 nghìn doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ, chiếm 24% tổng số doanh nghiệp trên cả nước. Trong đó có 50,8 nghìn doanh nghiệp là công ty cổ phần, gần 140 nghìn công ty TNHH một thành viên, hơn 93 nghìn công ty TNHH hai thành viên trở lên và trên 1,5 nghìn doanh nghiệp tư nhân. Qua khảo sát trên doanh nghiệp dân doanh tại 63 tỉnh, thành phố, Báo cáo của VCCI cho thấy, doanh nghiệp do nữ làm chủ có hoạt động kinh doanh tốt hơn doanh nghiệp do nam giới lãnh đạo.
Đặc biệt, năm 2020 trước khủng hoảng dịch bệnh Covid-19, một lần nữa đã cho thấy vai trò doanh nhân nữ khi làm chủ được hoạt động của doanh nghiệp với việc nỗ lực duy trì đội ngũ nhân tài, truyền năng lượng tích cực cho nhân viên, cộng sự của mình đồng thời duy trì tổ chức, bảo vệ khách hàng chủ chốt đồng hành… Qua đó đã đưa doanh nghiệp vượt qua khó khăn, đồng hành, chia sẻ với chính quyền các cấp trong thực hiện mục tiêu kép của Chính phủ là vừa phòng chống dịch Covid-19 hiệu quả, vừa phục hồi, phát triển kinh tế – xã hội.
Về tâm sinh lý, giới tính:
Lao động nữ thường có thể lực yếu hơn lao động nam nên họ thích nghi với công việc nhẹ nhàng. Với đặc thù về chức năng sinh sản, phụ nữ phải trải qua các giai đoạn sinh lý đặc biệt như thời kỳ kinh nguyệt, thai nghén, cho con bú ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của phụ nữ. Trong thời gian đảm nhận thiên chức làm mẹ để sinh đẻ và nuôi con thì lao động nữ đã bị tụt hậu về nghiệp vụ, trình độ, chuyên môn. Phụ nữ đảm nhiệm thiên chức làm vợ, làm mẹ đảm nhận công việc nội trợ, chăm sóc gia đình. Nhờ sự đảm đang này mà nam giới có thêm thời gian và điều kiện để lao động, sản xuất tốt hơn.
Mức lương của lao động nữ thường thấp hơn lao động nam, nếu có cao hơn thì cũng là do thâm niên công tác hoặc một tỷ lệ nhỏ là do năng lực công tác tốt hơn. Lý do về sự chênh lệch lương so với đồng nghiệp tại nơi làm việc là do lao động nam thường có sức khỏe, có khả năng làm những công việc nặng nhọc hơn, có thể đi công tác xa. Vì vậy, ngoài những quy định áp dụng cho tất cả lao động nói chung, pháp luật lao động có quy định riêng áp dụng cho lao động nữ nhằm bảo vệ và bảo hộ họ trước những nguy cơ bất lợi có thể xảy ra do ảnh hưởng chính những yếu tố đặc thù. Đồng thời cũng giúp họ thực hiện tốt chức năng lao động xã hội vừa có thể thực hiện tốt thiên chức của người phụ nữ.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 100.000 VNĐ (.docx)