THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 146 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0053.
- Pháp luật áp dụng: Luật Doanh nghiệp năm 2020.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2024] Quy định về công ty cổ phần theo pháp luật Nhật Bản và liên hệ với pháp luật Việt Nam 4 quy dinh ve cong ty co phan theo phap luat nhat ban va lien he voi phap luat viet nam 4](https://tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2024/02/quy-dinh-ve-cong-ty-co-phan-theo-phap-luat-nhat-ban-va-lien-he-voi-phap-luat-viet-nam-4.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| 1. Lý do lựa chọn đề tài | 1 |
| 2. Tình hình nghiên cứu của đề tài | 3 |
| 3. Phạm vi nghiên cứu | 5 |
| 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài | 5 |
| 5. Kết cấu tiểu luận | 6 |
| CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN | 7 |
| 1.1. Khái quát chung về công ty cổ phần | 7 |
| 1.1.1. Sự hình thành và phát triển công ty cổ phần | 7 |
| 1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của công ty cổ phần | 10 |
| 1.2. Khái quát chung pháp luật về công ty cổ phần | 13 |
| 1.2.1. Quá trình hình thành và phát triển pháp luật về công ty cổ phần | 13 |
| 1.2.2. Nội dung pháp luật về công ty cổ phần | 17 |
| CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP TẠI NHẬT BẢN | 26 |
| 2.1. Tổng quan về pháp luật doanh nghiệp Nhật Bản | 26 |
| 2.1.1. Lịch sử hình thành pháp luật doanh nghiệp tại Nhật Bản | 26 |
| 2.1.2. Các hình thức đầu tư vào Nhật Bản của doanh nghiệp nước ngoài | 27 |
| 2.2. Tổng quan về doanh nghiệp Nhật Bản | 31 |
| 2.2.1. Sự phát triển của các doanh nghiệp Nhật Bản | 31 |
| 2.2.2. Đặc trưng của các doanh nghiệp Nhật Bản | 33 |
| CHƯƠNG 3: CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH TẠI NHẬT BẢN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN | 38 |
| 3.1. Quy định về điều kiện và thủ tục thành lập công ty cổ phần tại Nhật Bản | 38 |
| 3.1.1. Quy định về điều kiện thành lập công ty cổ phần tại Nhật Bản | 38 |
| 3.1.2. Quy định về thủ tục thành lập công ty cổ phần tại Nhật Bản | 43 |
| 3.2. Quy định về vốn của công ty cổ phần tại Nhật Bản | 51 |
| 3.2.1. Quy định về vốn điều lệ của công ty cổ phần tại Nhật Bản | 51 |
| 3.2.2. Quy định về vốn pháp định của công ty cổ phần tại Nhật Bản | 61 |
| 3.2.3. Cơ chế huy động, chuyển nhượng, mua lại vốn và các trường hợp tăng, giảm vốn điều lệ của công ty cổ phần | 62 |
| 3.2.4. Thời điểm góp vốn | 67 |
| 3.3. Quy định về cơ cấu tổ chức quản lý nội bộ công ty cổ phần tại Nhật Bản | 69 |
| 3.3.1. Mô hình tổ chức quản lý công ty cổ phần Nhật Bản | 69 |
| 3.3.2. Trách nhiệm của người quản lý trong công ty cổ phần Nhật Bản | 75 |
| 3.4. Cổ đông, quyền và nghĩa vụ của cổ đông trong công ty cổ phần Nhật Bản | 76 |
| 3.4.1. Quy định về cổ đông trong công ty cổ phần tại Nhật Bản | 76 |
| 3.4.2. Quyền và nghĩa vụ của cổ đông trong công ty cổ phần tại Nhật Bản | 79 |
| 3.5. Trách nhiệm pháp lý về tài sản | 84 |
| 3.5.1. Trách nhiệm về tài sản của công ty | 84 |
| 3.5.2. Trách nhiệm về tài sản của thành viên hoặc cổ đông | 85 |
| 3.5.3. So sánh giữa trách nhiệm về tài sản của thành viên hoặc cổ đông trong công ty Nhật Bản và Việt Nam | 85 |
| 3.6. Tổ chức lại, chấm dứt hoạt động công ty cổ phần tại Nhật Bản: | 86 |
| 3.6.1. Tổ chức lại công ty cổ phần | 86 |
| 3.6.2. Chấm dứt hoạt động công ty cổ phần | 92 |
| CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH & SO SÁNH CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN TẠI VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN | 98 |
| 4.1. Tổng quan về pháp luật doanh nghiệp Việt Nam | 98 |
| 4.1.1. Lịch sử hình thành pháp luật doanh nghiệp Việt Nam | 98 |
| 4.1.2. Một số nội dung cơ bản của Luật Doanh nghiệp năm 2020 Việt Nam | 100 |
| 4.1.3. Vai trò của Luật Doanh nghiệp năm 2020 | 112 |
| 4.2. So sánh các quy định pháp luật về công ty cổ phần tại Việt Nam và Nhật Bản đối với mô hình công ty cổ phần | 114 |
| 4.2.1. Điểm giống nhau giữa các quy định pháp luật của Nhật Bản và Việt Nam đối với mô hình công ty cổ phần | 114 |
| 4.2.2. Điểm khác nhau giữa các quy định pháp luật của Nhật Bản và Việt Nam đối với mô hình công ty cổ phần và lý giải | 118 |
| CHƯƠNG 5: MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM | 130 |
| 5.1. Sự cần thiết hoàn thiện pháp luật Việt Nam về công ty cổ phần | 130 |
| 5.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về công ty cổ phần ở Việt Nam | 131 |
| 5.2.1. Hoàn thiện cơ chế bảo vệ cổ đông và các bên có lợi ích liên quan | 132 |
| 5.2.2. Hoàn thiện quy định pháp luật về kiểm toán nội bộ | 133 |
| 5.2.3. Công khai và minh bạch thông tin trong công ty cổ phần | 135 |
| KẾT LUẬN | 137 |
| TÀI LIỆU THAM KHẢO | 139 |
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Hiện nay nền kinh tế thế giới đã có sự phát triển vượt bậc. Chỉ riêng ở Việt Nam, đầu năm 2021, Chính phủ đã giao cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư, xây dựng Nghị quyết về phát triển doanh nghiệp giai đoạn 2021 – 2025, tầm nhìn đến năm 2030, với mục tiêu đến năm 2025 cả nước có 1,3 – 1,5 triệu doanh nghiệp. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tính đến hết năm 2020, Việt Nam có khoảng 810 nghìn doanh nghiệp đang hoạt động. Để đạt mục tiêu trên, theo tính toán, trong 5 năm liền, tốc độ tăng trưởng số lượng doanh nghiệp phải đạt từ 12-14%/năm. Tính ra, mỗi năm sẽ có thêm khoảng 100.000 – 150.000 doanh nghiệp mới đi vào hoạt động (Phan Linh, 2021). Để đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của thị trường thế giới nói chung và trong nước nói riêng, cũng như nhu cầu của các tổ chức, cá nhân trong việc huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau, hình thức công ty cổ phần ra đời và ngày càng trở nên phổ biến rộng rãi.
Tại Việt Nam, kể từ khi chủ trương đổi mới phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa được Đảng và Nhà nước đưa ra, các tổ chức, cá nhân càng có thêm nhiều cơ hội để phát huy được toàn bộ tiềm năng sản xuất và kinh doanh. Từ đó, hình thức công ty cổ phần ngày càng chứng minh được vài trò quan trọng của mình trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Nhận thức được vị thế quan trọng của công ty cổ phần trong nền kinh tế, pháp luật Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp lý, chế định liên quan, tạo cơ sở pháp lý chung để Nhà nước cũng như loại hình doanh nghiệp này có thể áp dụng thực tiễn vào công ty, nhằm mục đích làm cho bộ máy vận hành có hiệu quả, đóng góp ích lợi cho nền kinh tế nước nhà. Không chỉ vậy, Việt Nam còn tiếp cận với bộ luật hiện hành về công ty cổ phần của các quốc gia khác, không ngừng học hỏi và tiếp thu kinh nghiệm pháp luật công ty của các nước phát triển trên thế giới.
Tuy nhiên, từ thực tiễn kinh doanh cho thấy, bên cạnh các ưu điểm nổi trội, loại hình công ty cổ phần còn tồn tại khá nhiều hạn chế. Nhiều vấn đề như các quy định của pháp luật điều chỉnh về loại hình công ty này đang tồn tại khá nhiều bất cập. Bên cạnh đó, với sự phát triển của nền kinh tế – xã hội đất nước và nhu cầu mở rộng, hội nhập quốc tế ngày càng cao, pháp luật Việt Nam về công ty cổ phần đang bộc lộ nhiều vấn đề cần được hoàn thiện, chỉnh lý và bổ sung kỹ lưỡng để loại hình công ty cổ phần có thể phát triển tốt trong môi trường thương mại Việt Nam.
Ngày nay, thế giới đang chứng kiến việc hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng trở nên sâu rộng, cùng với đó là xu hướng toàn cầu hóa đang phát triển cực kỳ mạnh mẽ. Trong những năm qua, quan hệ kinh tế, thương mại và lao động giữa Việt Nam và Nhật Bản không ngừng phát triển, cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Nhật Bản là một trong những nước sớm thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Với sự vun đắp của nhiều thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước qua nhiều thời kỳ, quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa Việt Nam và Nhật Bản đã và đang phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ trên các lĩnh vực, đặc biệt là từ khi hai nước thiết lập quan hệ Đối tác Chiến lược sâu rộng vì hòa bình và thịnh vượng ở châu Á, năm 2014. Việt Nam và Nhật Bản cũng hợp tác chặt chẽ tại các diễn đàn, cơ chế đa phương ở cả cấp độ khu vực và toàn cầu, như Liên Hợp Quốc, hợp tác phát triển tiểu vùng sông Mekong; tích cực phối hợp trong các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm, thúc đẩy liên kết kinh tế, tự do hóa thương mại thông qua việc ký kết và thực thi Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) (Hải Minh, 2023).
Có thể khẳng định, sự tương đồng về văn hóa, mối liên hệ lịch sử, cùng tình cảm hữu nghị giữa nhân dân hai nước, sự chia sẻ nhiều lợi ích chung đã gắn kết chặt chẽ mối quan hệ Việt Nam-Nhật Bản. Chính sự tương đồng ấy cũng là yếu tố để chúng ta có thể học hỏi được những điều tiến bộ của nước bạn, đặc biệt là về quy định pháp luật hiện hành. Do vậy, việc nghiên cứu và so sánh luật về công ty cổ phần theo pháp luật Nhật Bản và Việt Nam nhằm tìm những ưu điểm, cũng như nhược điểm trong hệ thống pháp luật của hai quốc gia, từ đó rút kinh nghiệm làm bài học và hoàn thiện các vấn đề pháp lý liên quan đến công ty cổ phần tại Việt Nam là hết sức cần thiết.
Nhận thức được những vấn đề trên, nhóm nghiên cứu đã quyết định lựa chọn “Quy định về công ty cổ phần theo pháp luật Nhật Bản và liên hệ với pháp luật Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong nền kinh tế mở hiện nay, việc nghiên cứu về các quy định pháp luật hiện hành trong lĩnh vực kinh tế với mục đích nhằm so sánh và đối chiếu về sự khác biệt đã trở thành một đề tài được nhiều chuyên gia trong ngành, nhiều tác giả và nhóm tác giả nỗ lực nghiên cứu và khám phá. Đây chính là một đề tài cấp thiết, đóng góp rất nhiều kết quả tích cực cho quá trình tìm ra giải pháp cải thiện hệ thống pháp luật, từ đó mở ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp tham gia vào nền kinh tế, đồng thời kiểm soát chặt chẽ hơn các hoạt động thành lập, tổ chức, kinh doanh của các doanh nghiệp. Do đó, những đề tài liên quan đến pháp luật hiện hành của nhiều loại hình doanh nghiệp nói chung và công ty cổ phần nói riêng, và việc phân tích, so sánh về quy định pháp luật rất được quan tâm cả trong và ngoài nước.
Điểm chung của phần lớn các bài nghiên cứu cả trong và ngoài nước là đều lựa chọn đối tượng nghiên cứu là các quy định, chính sách trong hệ thống pháp luật tại hai quốc gia, từ đó phân tích, so sánh đối chiếu quy định pháp luật tại hai quốc gia đối với loại hình Công ty Cổ phần. Tất cả trong số đó đều đi đến kết luận hoặc gián tiếp chứng minh rằng mỗi bộ luật tại mỗi quốc gia đều có những ưu điểm và hạn chế riêng, vì vậy chúng ta cần học hỏi có chọn lọc.
Đề cập đến lĩnh vực so sánh pháp luật về doanh nghiệp, nhóm nghiên cứu đã tìm thấy một vài một số bài có giá trị tham khảo lớn, nổi tiếng như Nguyễn Toàn Phan và John Bentley với”Dự án VIE/97/016 so sánh về luật doanh nghiệp của 4 nước: Singapore, Malaysia, Philipine và Thái Lan”; luận văn thạc sĩ luật học Bạch Thị Lệ Thoa; Người hướng dẫn: TS. Phan Chí Hiếu, GS. Herve Lecuyer, 2004, “Một số khía cạnh pháp lý về công ty cổ phần dưới góc độ so sánh giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật Cộng hoà Pháp”; hay tác phẩm của TS Nguyễn Am Hiểu, “Hình thức pháp lý doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay nhìn từ góc độ luật so sánh”.
Ngoài ra, nhóm nghiên cứu cũng tìm kiếm được những tài liệu trực tiếp liên quan đến đề tài đang thực hiện, so sánh công ty cổ phần theo pháp luật Nhật Bản và Việt Nam. Tiêu biểu là tác phẩm của Th.s Nguyễn Đức Lâm, “Tiếp nhận luật nước bên ngoài: nhìn từ ví dụ luật công ty của Nhật Bản và Luật doanh nghiệp Việt Nam”; bài nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan Hương, 2009, “Một số so sánh về công ty cổ phần theo Luật công ty Nhật Bản và Luật doanh nghiệp Việt Nam”, tác phẩm của Luật sư Lê Minh Trường, 2012, “Một số so sánh về công ty cổ phần theo luật công ty Nhật Bản và luật doanh nghiệp Việt Nam”…
Cụ thể hơn, ở lĩnh vực nghiên cứu pháp luật Công ty cổ phần Nhật Bản và Việt Nam, có một số bài nghiên cứu xác định rõ chế độ sở hữu cổ phần, về quan hệ pháp lý giữa công ty mẹ và công ty con như bài viết tại Tạp chí Nhà nước và Pháp luật của Nguyễn Thị Lan Hương, 2003, “Những vấn đề pháp lý về Công ty mẹ con ở Nhật Bản”; về các vấn đề liên quan đến cổ đông như bài nghiên cứu của Phan Hoàng Ngọc, 2018, “Pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số của công ty cổ phần ở Việt Nam. Nghiên cứu so sánh với Nhật Bản và Hoa Kỳ, về lịch sử hình thành các tổ chức doanh nghiệp tại Nhật Bản như tác phẩm của TOM NICHOLAS, “The Organization of Enterprise in Japan”…
Bên cạnh kết quả nghiên cứu quốc tế, các bài nghiên cứu trong nước được tìm thấy đã cung cấp cho nhóm nghiên cứu những luận điểm và góc nhìn rõ nét hơn về chủ đề này khi đặt trong môi trường Việt Nam. Nhìn chung, với mục tiêu tìm ra sự tương đồng và khác biệt giữa các chế định luật doanh nghiệp Việt Nam so với các nước khác, trong đó có Luật Thương Mại Nhật Bản, thì phương pháp đối chiếu pháp luật vận dụng là hoàn toàn phù hợp. Tuy nhiên, việc sử dụng phương pháp so sánh luật học như trên còn gặp rất nhiều hạn chế. Hai nguyên nhân chính tiêu biểu nhất là do thiếu các nguồn thông tin cần thiết để đánh giá các quy định sửa đổi đặt trong bối cảnh kinh tế xã hội của Nhật Bản và do nguồn tư liệu hạn hẹp nên việc nghiên cứu về pháp luật công ty của Nhật Bản chưa nhiều.
Nhận thấy những khoảng trống nghiên cứu ấy, với mong muốn cống hiến thêm kiến thức và lấp đầy những khoảng trống nghiên cứu trong đề tài này, nhóm tác giả đã lựa chọn đề tài “Quy định về công ty cổ phần theo pháp luật Nhật Bản và liên hệ với pháp luật Việt Nam”.
3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi thời gian: Bài nghiên cứu được thực hiện từ ngày 20/08/2023 đến 15/09/2023. Trong đó: Nhóm nghiên cứu đã dành 18 ngày, khoảng thời gian cụ thể từ 20/08/2023 đến 06/09/2023 là tìm kiếm tài liệu và thông tin về vấn đề nghiên cứu; Từ 06/09/2023 đến 16/09/2023 nhóm tập trung viết bài báo cáo; Cuối cùng, nhóm nghiên cứu đã dành bốn ngày còn lại, từ 16/09/2023 đến 20/09/2023 để chuẩn bị nội dung và slide phục vụ cho mục đích thuyết trình.
Phạm vi nội dung: Bài nghiên cứu tập trung nghiên cứu về công ty cổ phần theo pháp luật Nhật Bản. Ngoài ra, nhóm tác giả cũng nghiên cứu về Công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam nhằm so sánh, phân tích và đưa ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục tiêu nghiên cứu: Bài nghiên cứu được thực hiện với mục đích nhằm tìm hiểu và nghiên cứu về công ty cổ phần theo pháp luật Nhật Bản. Từ đó phân tích, so sánh với pháp luật hiện hành về công ty cổ phần của Việt Nam và rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Cụ thể như sau: Đưa ra cái nhìn tổng quan và phân tích về các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến hoạt động của công ty cổ phần tại Nhật Bản; Phân tích các quy định pháp luật hiện hành về công ty cổ phần tại Việt Nam. Từ đó so sánh các đặc điểm về quy định pháp luật liên quan đến hoạt động của công ty cổ phần tại Việt Nam và Nhật Bản; Rút ra các bài học kinh nghiệm và từ đó đề xuất hoàn thiện pháp luật Việt Nam về loại hình công ty cổ phần. Mục tiêu cuối cùng của nghiên cứu là cung cấp những thông tin cần thiết và đưa ra những giải pháp để cải thiện hiệu quả hoạt động của các công ty cổ phần tại Việt Nam, từ đó đóng góp vào sự phát triển bền vững của kinh tế và xã hội.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Cung cấp những kiến thức tổng quan về công ty cổ phần và pháp luật về công ty cổ phần; Nghiên cứu và phân tích về pháp luật hiện hành của Nhật Bản về Công ty cổ phần; Phân tích và so sánh pháp luật hiện hành về công ty cổ phần tại Nhật Bản và Việt Nam; Đưa ra kết luận và một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
5. Kết cấu tiểu luận
Ngoài Lời nói đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu tiểu luận gồm năm chương:
Chương 1: Khái quát chung về công ty cổ phần và pháp luật về công ty cổ phần
Chương 2: Tổng quan về pháp luật doanh nghiệp tại Nhật Bản
Chương 3: Các quy định pháp luật hiện hành tại Nhật Bản về công ty cổ phần
Chương 4: Phân tích & so sánh các quy định pháp luật về công ty cổ phần tại Việt Nam và Nhật Bản
Chương 5: Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1. Khái quát chung về công ty cổ phần
1.1.1. Sự hình thành và phát triển công ty cổ phần
“Kinh doanh? Rất đơn giản; đó là tiền của người khác” (Alexandre Dumas). Một loại hình công ty huy động vốn hiệu quả nhất tập hợp vốn từ nhiều cá nhân tổ chức để hoạt động công ty với số vốn nó huy động được chịu trách nhiệm hữu hạn trong số vốn mà nó có, tạo niềm tin và thu hút nhiều vốn từ nhà đầu tư lớn đó là mô hình công ty cổ phần. Công ty cổ phần đã và đang phát triển lâu bền và có sức ảnh hưởng thế giới được cho là mô hình công ty phát triển bậc nhất hiện tại.
Tuy ra đời sau các loại hình công ty đối nhân nhưng công ty cổ phần là hình thức đầu tiên của loại hình công ty đối vốn. Không giống sự ra đời của hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn – là sản phẩm của các nhà lập pháp xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn kinh doanh, công ty cổ phần được hình thành trong hoạt động kinh doanh, do nhu cầu của các nhà kinh doanh rồi sau đó mới được pháp luật thừa nhận và hoàn thiện thành một chế định pháp lý.
Công ty cổ phần xuất hiện đầu tiên trên thế giới là công ty Đông Ấn (East India Company) của Anh (1600-1874). Nó được thành lập ngày 31/10/1860 bởi một nhóm có 218 người, được cấp phép độc quyền kinh doanh trong vòng 15 năm ở vùng Đông Ấn, các quốc gia và hải cảng ở châu Á, châu Phi; được đi lại từ tất cả các hải cảng của các đảo, thị trấn và địa điểm ở châu Á, châu Phi và Mỹ hay bất kỳ địa điểm nào như thế nằm ngoài Mũi Hảo Vọng (Cape of Good Hope) và Eo biển Magellan. Ngày 01/06/1874, công ty bị giải thể khi giấy phép lần sau cùng không được gia hạn. Công ty đầu tiên này hoạt động hết sức lỏng lẻo: “Người đầu tư góp vốn theo chuyến đi biển và sau mỗi chuyến đi biển nhận lại vốn cổ phần và tiền lãi”. Đến năm 1602, ở Hà Lan xuất hiện các công ty cổ phần theo hình thức tương tự công ty Đông Ấn của Anh, rồi lần lượt công ty cổ phần xuất hiện ở Thụy Điển, Đan Mạch, Đức…
Từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, công ty cổ phần bắt đầu phát triển ở nhiều lĩnh vực khác nhau như giao thông, vận tải, xây dựng, các ngành chế tạo cơ khí, ngân hàng, bảo hiểm…ở các nước tư bản phát triển và về sau phát triển rộng rãi ở các nơi khác trên thế giới. Đến những năm 20, 30 của thế kỷ XIX, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học, kỹ thuật, nền kinh tế thế giới có bước phát triển mạnh mẽ, điều đó dẫn đến nhu cầu phải tập trung những nguồn vốn lớn để xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội. Công ty cổ phần là một trong những công cụ giúp thực hiện nhanh chóng vấn đề tập trung vốn. Sự ra đời của công ty cổ phần đã giúp cho các nhà doanh nghiệp xử lý các vấn đề huy động nguồn vốn một cách nhanh chóng.
Ở Mỹ các công ty cổ phần phát triển khá ổn định và không bị biến động nhiều. Ban đầu là công ty cổ phần phát triển nhằm tài trợ vào dự án xây dựng đường sắt, và sau là để thiết lập hệ thống phân phối và dịch vụ trên phạm vi toàn quốc của Mỹ. Chính là vì yêu cầu hỗ trợ cho một số công ty phát triển đường sắt nên vào năm 1811, thị trường chứng khoán ở New York ban bố luật pháp mang tính trách nhiệm cá nhân dành cho những công ty này. Như vậy công ty có cổ phần sẽ nhận trách nhiệm trên tổng số tiền nó có mà không phải là của người bỏ vốn vào. Nhờ có điều luật trên, tiền sinh sôi nhanh chóng ngày càng nhiều chảy về New York và tính hữu hạn đó trở nên phổ biến và những bang khác không sử dụng đến nó sẽ không nhận thêm đầu tư.
Từ sự tăng trưởng kinh tế của Mỹ các công ty cổ phần lớn mạnh không ngừng và nhiều nước ở Châu Âu cũng phải chạy theo. Do vậy, họ đã giảm dần sự quản lý các công ty.
Ví dụ như ở Anh, chính quyền cũng đã nới bớt luật lệ dành các công ty. Năm 1825, theo các luật khác, họ bỏ luật cấm thành lập công ty cổ phần đã có năm 1720. Từ khoảng năm 1830, đường sắt được thành lập giữa những địa phương, nhiều công ty xe lửa đã ra đời; họ bán cổ phần trên thị trường chứng khoán, và nhằm tăng thêm sự cạnh tranh, họ cũng bán cả cổ phiếu phổ thông, nhưng không ở London mà còn ở các nơi khác. Ngoài ra, nhiều công ty bưu chính và điện báo cũng phát triển. Các sự kiện đã thúc đẩy Quốc hội Anh phải thông qua luật nhằm đặt công ty cổ phần trở lại vòng trật tự.
Luật về công ty cổ phần được thông qua năm 1844. Theo luật, mọi công ty mới được thành lập không phải xin giấy phép mà chỉ cần đăng kí. Tuy vậy, luật lại không cho công ty được nhận mức trách nhiệm hữu hạn. Sự này đã khiến nảy sinh sự nghi ngờ và cũng chính là thể hiện sự nghi ngờ của dân chúng đối với các công ty Anh lúc bấy giờ.
Vào đầu năm 1850 có hơn 40 công ty của Anh đã đến Pháp được thành lập do chi phí thành lập ở Pháp là khá cao. Chính phủ của Anh sợ mất kinh tế nên 1855 đã ban hành luật quy định tính trách nhiệm hữu hạn đối với những công ty đã được thành lập theo luật về công ty cổ phần. Cuối cùng tất cả hai luật kể trên được gộp làm một vào năm 1862. Vào thời điểm ấy, nước Anh là bá chủ trong đại dương và là một cường quốc trên toàn cầu. Luật công ty của Mỹ cũng chịu ảnh hưởng của Anh vì sự ra đời của nước Mỹ. Các nước trong Khối thịnh vượng chung ngày nay có luật công ty cũng giống với của Anh.
Riêng Đức và Pháp đi theo một con đường khác vì xung đột trong văn hoá. Công ty của Đức bị luật quản lý khắt khe và không linh hoạt bằng công ty của Anh và Mỹ. Ở Pháp, các công ty này cần có giấy phép của chính quyền khi hoạt động vì họ lập nên hình thức société en commandite par actions (hội hợp tư cổ phần), và một số thành viên không can thiệp được quá trình điều hành hội sẽ chịu những trách nhiệm cá nhân. Năm 1807, bộ luật Napoleon thiết lập một nền tảng cho công ty bằng việc cấm các hội hợp tư cổ phần, và vào năm 1863 thì luật công ty trách nhiệm hữu hạn xuất hiện.
Thời điểm đó ở Nhật Bản đã diễn ra nhiều cuộc cải cách quan trọng ảnh hướng tới sự ra đời và phát triển của nhiều đạo luật. Sự mở cửa, tiếp nhận pháp luật phương Tây của Nhật Bản bắt đầu từ năm 1868 khi Nhật Bản cải cách, mở cửa giao lưu với các quốc gia bên ngoài và các trào lưu tư tưởng, chính trị, pháp luật, văn hoá phương Tây nhờ đó bắt đầu được du nhập vào Nhật Bản. Việc này đã khiến Bộ luật Thương Mại Nhật Bản chịu ảnh hưởng của nhiều bộ Luật Công ty của các nước phương tây như Đức, Pháp, … Đặc biệt sau thời kì chiếm đóng Nhật Bản, Luật Thương Mại Nhật Bản nói chung và Luật Công ty Nhật Bản nói riêng vẫn còn nhiều dấu ấn của hình thức công ty của Mỹ trước thời kì chiến tranh.
Cuối cùng cho đến ngày nay, trải qua lịch sử phát triển dài lâu, công ty cổ phần đã từ giới hạn ở một nước hay một khu vực nhất định mà đã phát triển trở thành những công ty đa quốc gia và kinh doanh trong nhiều lĩnh vực khác nhau, theo như nhận định: “Công ty cổ phần đã phát triển ở tất cả các nước từ cơ bản đến cao cấp, từ quy mô bé đến quy mô to, từ một ngành đến đa ngành, từ một quốc gia đến nhiều quốc gia thông qua các công ty siêu quốc gia”.
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của công ty cổ phần
Khái niệm về công ty cổ phần của các nước trên thế giới không giống nhau, nhưng nhìn chung đều thống nhất quan niệm:
Công ty cổ phần là loại hình công ty đặc trưng của công ty đối vốn với đặc điểm quan trọng là có sự tách bạch tài sản của công ty và tài sản của các cổ đông.
Các thành viên góp vốn, cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn góp vào công ty.
Vốn cơ bản của công ty được chia thành các cổ phần. Trong quá trình hoạt động, công ty cổ phần được phát hành các loại chứng khoán ra thị trường để huy động vốn.
Chẳng hạn Điều 1041 Đạo luật Công ty, 2016, Vương Quốc Anh định nghĩa: “Công ty cổ phần có nghĩa là một công ty – (A) có vốn điều lệ đã góp hoặc cổ phần danh nghĩa của tổng số vốn cố định được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, cũng số vốn cố định, hoặc nắm giữ và chuyển giao như chứng khoán, hoặc được chia và nắm giữ một phần bằng cách này và một phần bằng cách khác và (B) thành lập trên nguyên tắc có các thành viên sở hữu cổ phiếu hoặc chứng khoán đó và không có những người khác.”
Ở Pháp, công ty cổ phần ngoài việc phải tuân thủ Bộ luật Thương mại, còn chịu sự tác động của Luật Công ty ngày 14/12/1985 là luật quy định điều kiện để một công ty được phát hành các loại chứng khoán. Theo các luật này, công ty cổ phần ở Pháp phải có ít nhất 7 cổ đông. Vốn pháp định tối thiểu là 250.000 FF (tương đương 37.5000 euros) đối với những công ty không phát hành các loại chứng khoán và 1.500.000 FF (tương đương 225.000 euros) đối với công ty phát hành chứng khoán. Mệnh giá mỗi cổ phiếu là 100 FF (15 euros), 25% vốn của công ty phải được đóng đủ khi thành lập, phần còn lại được đóng góp trong vòng 5 năm tiếp theo. Các cổ đông không bị bắt buộc phải là thương nhân. Pháp nhân cũng có thể là cổ đông của công ty cổ phần.
Về bản chất, pháp luật Việt Nam và pháp luật của một số nước trên thế giới tương đối tương đồng khi quy định về khái niệm công ty cổ phần. Điều 111 Luật Doanh nghiệp năm 2020 của Việt Nam quy định công ty cổ phần:
“Điều 111. Công ty cổ phần
1, Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
a, Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
b, Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa;
c, Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
d, Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 120 và khoản 1 Điều 127 của Luật này.
2, Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
3, Công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần, trái phiếu và các loại chứng khoán khác của công ty.”
Tương tự như Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2020 không đưa ra một khái niệm khái quát mà chỉ liệt kê những dấu hiệu pháp lý để nhận diện công ty cổ phần nhưng quy định này đã xác định tư cách pháp lý tồn tại của công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam, giúp phân biệt loại hình công ty cổ phần với các loại hình doanh nghiệp khác. Luật Doanh nghiệp năm 2020 không sửa đổi về khái niệm công ty cổ phần so với Luật Doanh nghiệp năm 2014. Theo đó, công ty cổ phần giới hạn việc huy động vốn bằng việc phát hành các loại cổ phần, chứ không quy định chung là chứng khoán các loại như trước đây.
Nhìn chung, công ty cổ phần ở hầu hết các nước trên thế giới bao gồm cả Nhật Bản có những đặc điểm chính sau đây:
Thứ nhất, về tính chất khi thành lập, công ty cổ phần là loại công ty đối vốn. Điều đó có nghĩa là khi thành lập công ty chủ yếu quan tâm đến vốn góp, còn việc ai góp vốn không quan trọng. Vì vậy công ty cổ phần có cấu trúc vốn mở.
Thứ hai, vốn điều lệ của công ty cổ phần được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Theo đó, để xác định giá trị của vốn điều lệ công ty cổ phần người ta xác định tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán các loại. Một cổ phiếu có thể phản ánh mệnh giá của một hoặc nhiều cổ phần. Việc góp vốn vào công ty được thực hiện bằng cách mua cổ phần, mỗi cổ đông có thể mua nhiều cổ phần. Pháp luật hoặc điều lệ công ty có thể giới hạn tối đa số cổ phần mà một cổ đông có thể mua nhằm chống lại việc một cổ đông nào đó có thể nắm quyền kiểm soát công ty do có nhiều vốn góp.
Thứ ba, về số lượng cổ đông. Là loại hình công ty đối vốn nên theo truyền thống pháp luật về công ty của các quốc gia trên thế giới, việc quy định số cổ đông tối thiểu phải có khi thành lập cũng như trong suốt quá trình hoạt động đã trở thành thông lệ quốc tế trong suốt mấy trăm năm tồn tại của công ty cổ phần. Cùng với sự phát triển kinh tế, pháp luật về công ty cũng có sự thay đổi (phá vỡ truyền thống), một số nước thừa nhận công ty cổ phần có một cổ đông, cũng như thừa nhận công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.
Thứ tư, tính tự do chuyển nhượng phần vốn góp cũng là đặc điểm chỉ có ở công ty cổ phần (do bản chất đối vốn). Người có cổ phần được tự do chuyển nhượng theo quy định của pháp luật. Việc chuyển nhượng được thực hiện theo cách thông thường hoặc thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán.
Thứ năm, về chế độ chịu trách nhiệm trong kinh doanh. Công ty chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác bằng toàn bộ tài sản của công ty. Cổ đông chịu trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi cổ phần sở hữu.
Thứ sáu, về huy động vốn, trong quá trình hoạt động công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần các loại, có quyền phát hành trái phiếu, trái phiếu chuyển đổi và các loại trái phiếu khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty.
Thứ bảy, Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân và vì vậy công ty cũng có tư cách thương nhân (thương nhân bởi hình thức). Các cổ đông hay những người quản trị công ty đều không có tư cách thương nhân. Những người có quyền giao dịch với bên ngoài là những người đại diện cho công ty. Công ty cổ phần có cơ cấu tổ chức rất chặt chẽ do những đặc điểm như đã trình bày đòi hỏi phải có cơ cấu quản trị chuyên nghiệp tách bạch với sở hữu.
1.2. Khái quát chung pháp luật về công ty cổ phần
1.2.1. Quá trình hình thành và phát triển pháp luật về công ty cổ phần
Quá trình hình thành và phát triển pháp luật về công ty cổ phần là một quá trình dài và phức tạp, đặc biệt là khi áp dụng trong các quốc gia châu Á, châu Phi và Trung Đông. Điều này thể hiện sự nỗ lực và cam kết của các quốc gia này trong việc tạo ra một môi trường kinh doanh có tính minh bạch, ổn định và hấp dẫn cho đầu tư. Nó thường bắt đầu bằng việc thúc đẩy sự hiểu biết và nhận thức về mô hình công ty cổ phần trong xã hội và doanh nghiệp. Sau đó, quốc gia sẽ điều chỉnh và phát triển quy định pháp lý để phù hợp với nhu cầu và điều kiện cụ thể của họ. Các quy định này phải cân nhắc kỹ lưỡng để đảm bảo cân bằng giữa việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế và bảo vệ quyền lợi của cổ đông và các bên liên quan.
Việc hình thành pháp luật về công ty cổ phần cũng đòi hỏi quá trình thảo luận, thương lượng và thường xuyên sửa đổi để điều chỉnh với sự phát triển và biến đổi của nền kinh tế và xã hội. Điều này đặt ra yêu cầu cao về tính linh hoạt và sự khả năng thích nghi của pháp luật. Ngoài ra, quá trình này còn bao gồm việc tạo ra cơ cấu giám sát và quản lý hiệu quả để đảm bảo tuân thủ và thực thi pháp luật một cách công bằng và hiệu quả. Điều này bao gồm việc đào tạo và phát triển các chuyên gia pháp lý, cũng như đầu tư vào hệ thống công nghệ thông tin để quản lý thông tin về các công ty cổ phần và cổ đông. Việc hình thành pháp luật của Công ty cổ phần thể hiện sự nỗ lực của các quốc gia trong việc xây dựng một hệ thống pháp luật vững mạnh để hỗ trợ sự phát triển kinh tế và tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư, đồng thời đảm bảo sự minh bạch và bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 100.000 VNĐ (.docx)