THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Kiểm sát Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 22 trang (cả bìa)
- Năm: 2022 / Mã số: B0176.
- Pháp luật áp dụng: Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2009 và 2019).
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2022] Quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh trong pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện 2 B0176 quyen tac gia doi voi tac pham phai sinh 2](https://bunny-wp-pullzone-evwxkqab4s.b-cdn.net/wp-content/uploads/2024/02/B0176-quyen-tac-gia-doi-voi-tac-pham-phai-sinh-2.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM PHÁI SINH | 2 |
| 1.1. Khái niệm và đặc điểm của tác phẩm phái sinh | 2 |
| 1.1.1. Khái niệm tác phẩm phái sinh | 2 |
| 1.1.2. Đặc điểm của tác phẩm phái sinh [2] | 2 |
| 1.2. Khái niệm và đặc điểm của quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh | 4 |
| 1.3. Ý nghĩa của việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh | 5 |
| CHƯƠNG II: QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM PHÁI SINH THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VIỆT NAM HIỆN HÀNH | 6 |
| 2.1. Điều kiện bảo hộ đối với tác phẩm phái sinh | 6 |
| 2.2. Chủ thể của quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh | 7 |
| 2.2.1. Tác giả | 7 |
| 2.2.2. Chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh [2,4] | 8 |
| 2.3. Quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh | 9 |
| 2.3.1. Quyền nhân thân | 9 |
| 2.3.2. Quyền tài sản | 11 |
| CHƯƠNG III: THỰC TIỄN BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM PHÁI SINH | 14 |
| CHƯƠNG IV: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO VỆ QUYỀN TÁC GIẢ NÓI CHUNG VÀ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM PHÁI SINH Ở NƯỚC TA | 16 |
| KẾT LUẬN | 18 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 19 |
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay việc kế thừa, phát triển các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học đã tồn tại như là một trong những yếu tố thúc đẩy sự phát triển và đổi mới của tài sản trí tuệ. Đã từ lâu chúng ta đã không ngừng kế thừa các nghiên cứu đi trước trong các lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học, từ đó tạo ra các sản phẩm mới. Những cái mới được sáng tạo dựa trên những cái cũ đó được gọi là các tác phẩm phái sinh và là đối tượng được pháp luật sở hữu trí tuệ bảo hộ về quyền tác giả. Thông qua các tác phẩm phái sinh mà điển hình chúng ta có thể thấy đó là các tác phẩm được dịch, chúng ta có thể hiểu rõ hơn phần nào về văn hóa, xã hội, khoa học và chính trị của các quốc gia trên thế giới. Bên cạnh đó sự chuyển đổi các hình thức diễn đạt, thể loại tác phẩm mà các tác phẩm cải biên hay tác phẩm chuyển thể cũng góp phần làm phong phú thêm loại hình biểu diễn và phù hợp với thị hiếu, nhu cầu của nhiều đối tượng khác nhau.
Hiện nay các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ cũng như các cơ chế bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ cũng liên tục được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện. Tuy nhiên phải nói rằng hiện nay các quan hệ xã hội ngày càng đa dạng, phong phú do đó mà các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ ngày càng tăng về cả số lượng và tính chất phức tạp của từng vụ việc. Mặt khác thực tế vấn đề quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh hiện nay ở nước ta cũng khá phức tạp, quy định của pháp luật về vấn đề này vẫn còn nhiều hạn chế.
Do đó trong bài tiểu luận kết thúc học phần của mình, em xin chọn đề tài: “Quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh trong pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành – thực trạng và kiến nghị hoàn thiện”. Qua việc nghiên cứu đề tài này nhằm tìm hiểu các quy định của pháp luật về quyền của tác giả đối với tác phẩm phái sinh. Từ đó chỉ ra thực trạng của việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh ở nước ta hiện nay như thế nào. Đồng thời đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề này.
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM PHÁI SINH
1.1. Khái niệm và đặc điểm của tác phẩm phái sinh
1.1.1. Khái niệm tác phẩm phái sinh
Thay vì định nghĩa thế nào là một tác phẩm phái sinh theo ý nghĩa của luật quyền tác giả thì Công ước Berne chỉ quy định các loại hình tác phẩm thuộc các lĩnh vực nào sẽ được bảo hộ quyền tác giả, cụ thể: “Các tác phẩm dịch, mô phỏng, chuyển thể nhạc và các chuyển thể khác từ một tác phẩm văn học nghệ thuật đều được bảo hộ như các tác phẩm gốc mà không phương hại đến quyền tác giả của tác phẩm gốc”.[1]
Có thể thấy Công ước Berne không đưa ra định nghĩa tác phẩm phái sinh mà chia tác phẩm phái sinh thành hai loại dựa theo cách thức tác động của tác giả đối với tác phẩm gốc. Việc phân chia như vậy hoàn toàn phù hợp với bản chất của tác phẩm phái sinh và một số quốc gia trên thế giới cũng quy định tương đồng với Công ước Berne trong đó có nước ta. [2]
Theo đó khái niệm tác phẩm phái sinh được quy định tại khoản 8 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019) như sau: “Tác phẩm phái sinh là tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn”.[3]
1.1.2. Đặc điểm của tác phẩm phái sinh [2]
Thứ nhất, tác phẩm phái sinh chỉ được hình thành trên cơ sở một hoặc những tác phẩm đã tồn tại. Tác phẩm đã tồn tại có thể còn thời hạn hoặc hết thời hạn bảo hộ quyền công bố tác phẩm và quyền tài sản. Quyền cho làm tác phẩm phái sinh thuộc nhóm quyền tài sản đối với tác phẩm, quyền này được quy định tại điểm a khoản 1 điều 20 Luật sở hữu trí tuệ 2005.
Ví dụ: Căn cứ theo đặc điểm trên sẽ có hai loại tác phẩm phái sinh:
Một là, sáng tạo tác phẩm phái sinh mà không cần sự cho phép của chủ sở hữu tác phẩm gốc;
Hai là, sáng tạo tác phẩm phái sinh, nhưng nhất thiết phải được sự cho phép của chủ sở hữu tác phẩm gốc.
Trong cả hai loại tác phẩm phái sinh trên thì các quyền nhân thân được quy định tại khoản 1, 2, 4 điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 do đó ngay cả trong ví dụ (1) thì người sáng tạo tác phẩm phái sinh vẫn phải tôn trọng quyền nhân thân không thể chuyển giao của tác giả tác phẩm gốc. Thuật ngữ tác phẩm gốc vừa nêu là tác phẩm mà người sáng tạo tác phẩm phái sinh dựa trên nền của nó để sáng tạo tác phẩm (phái sinh) của mình.
Thứ hai, về hình thức thể hiện của tác phẩm phái sinh, pháp luật quyền tác giả không bảo hộ nội dung ý tưởng mà chỉ bảo hộ hình thức thể hiện của ý tưởng. Mặt khác, tác phẩm phái sinh không phải là bản sao của tác phẩm gốc. Do đó, trong nhiều trường hợp hình thức thể hiện của tác phẩm phái sinh phải khác biệt hoàn toàn hoặc khác biệt từng phần với hình thức thể hiện của tác phẩm gốc.
Thứ ba, về tính nguyên gốc, tác phẩm phái sinh phải do tác giả tự mình sáng tạo nên mà không sao chép từ tác phẩm, những tác phẩm khác. Thuật ngữ “tác phẩm khác” được hiểu là kể cả tác phẩm của chính tác giả đó. Để một tác phẩm phái sinh được bảo hộ thì nó phải mang dấu ấn sáng tạo của tác giả. Tuy nhiên, nếu ranh giới giữa sáng tạo từng phần và sáng tạo hoàn toàn là dễ nhận biết, ranh giới giữa sáng tạo tác phẩm phái sinh và xâm phạm quyền tác giả của tác phẩm gốc là khó nhận biết. Sự xâm phạm này thường thể hiện ở việc xâm phạm quyền nhân thân không thể chuyển giao trong quyền tác giả.
Thứ tư, về dấu ấn của tác phẩm gốc trong tác phẩm phái sinh, mặc dù tác phẩm phái sinh phải đảm bảo tính nguyên gốc như vừa phân tích, nhưng dấu ấn của tác phẩm gốc phải được thể hiện trong tác phẩm phái sinh, có nghĩa là khi nhận biết tác phẩm phái sinh thì công chúng phải liên tưởng đến tác phẩm gốc, sự liên tưởng này được thể hiện qua nội dung của tác phẩm gốc. Hiện nay pháp luật quyền tác giả không bảo hộ nội dung của tác phẩm, do đó sự liên tưởng về nội dung giữa tác phẩm phái sinh với tác phẩm gốc không làm mất đi tính nguyên gốc của tác phẩm phái sinh.
1.2. Khái niệm và đặc điểm của quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh
Theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ 2005: “Tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh” [3]. Theo đó cũng như quyền tác giả đối với tác phẩm gốc, chủ sở hữu quyền tác giả tác phẩm phái sinh cũng được hưởng quyền tài sản và quyền nhân thân nhưng tùy thuộc vào mức độ và phạm vi.
Tuy nhiên quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh cũng có những đặc thù khi đặc trong mối quan hệ với tác phẩm gốc đó là quyền tác giả của tác phẩm phái sinh sẽ hoàn toàn độc lập với quyền tác giả của tác phẩm gốc ngay kể từ khi tác phẩm phái sinh được định hình dưới một dạng vật chất nhất định. Tác phẩm phái sinh được bảo hộ quyền tác giả như một tác phẩm gốc nhưng không được phương hại đến quyền tác giả của tác phẩm gốc.
Quyền tác giả phái sinh kể từ khi tác phẩm phái sinh được tạo ra, là quyền của tác giả đối với tác phẩm phái sinh do mình sáng tạo nên. Giống như tác phẩm gốc, quyền tác giả phái sinh là quyền tự động, phát sinh ngay khi tạo ra tác phẩm, được pháp luật bảo hộ mà không cần phải đăng ký. Tác phẩm phái sinh là tác phẩm được hình thành dựa trên tác phẩm gốc và được sáng tạo, thay đổi qua quá trình làm việc của tác giả. Do đó tác phẩm phái sinh cũng có thể có đủ điều kiện được hưởng sự bảo hộ quyền tác giả riêng biệt nhưng quyền tác giả chỉ được áp dụng đối với những nội dung có tính nguyên gốc của tác phẩm phái sinh. [2]
Việc bảo hộ tác phẩm phái sinh có liên quan đến việc bảo hộ tác phẩm gốc, để một tác phái sinh được bảo hộ quyền tác giả thì điều kiện tiên quyết là không phương hại đến quyền tác giả của tác phẩm gốc. Khoản 7 Điều 28 Luật sở hữu trí tuệ 2005 cũng quy định bất cứ hành vi làm tác phẩm phái sinh mà không được phép của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm gốc được dùng làm tác phẩm phái sinh thì được coi là hành vi xâm phạm quyền tác giả.
Tóm lại, qua đó có thể thấy rằng quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh cũng tương tự như quyền tác giả nói chung.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 100.000 VNĐ (.docx)